Hiển thị các bài đăng có nhãn Tổng hợp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tổng hợp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2016

“VẠN SỰ TÙY DUYÊN”, MUỐN BÌNH AN HÃY NHỚ KỸ NHỮNG ĐIỀU NÀY


Xã hội hiện tại với đầy rẫy bon chen, cạnh tranh. Nếu không là chính mình bạn sẽ không bao giờ tìm được bình an trong tâm hồn.
Cuộc sống luôn là một chuỗi thiên biến vạn hóa mà chúng ta không thể lường trước được. Tuy nhiên, nếu muốn cả đời được bình an thì hãy ghi nhớ làm theo 15 điều này!
1. Suy nghĩ kĩ trước khi nói
Người ta thường nói “bệnh từ miệng mà vào, họa từ miệng mà ra”. Đừng có lúc nào cũng bù lu bù loa, hãy kiệm lời. Thận trọng với lời nói của mình, nói nhiều không hẳn đã có ích. Nói ít thôi, lắng nghe nhiều hơn.
2. Khoan kết luận vội vàng
Đừng vội kết luận khi đứng trước một vấn đề nào đó. Vì đứng ở những góc độ khác nhau sẽ có những cách nhìn khác nhau. Đừng lấy quan điểm của mình mà quy chụp tất cả. Cứ bình tĩnh nhìn nhận mọi thứ thật kĩ lưỡng trước khi đưa ra nhận xét.
3. Đơn giản hóa mọi chuyện
Chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không thì phiền phức sẽ không đến với bạn đâu. Đừng vì một tí việc cỏn con lại suy diễn nghĩ ra dăm ba vấn đề to lớn rồi tự làm khổ mình. Tâm an hay không là do mình chọn.
4. Đừng bình luận về người khác
Tuyệt đối đừng đem người khác ra làm chủ đề cho cuộc nói chuyện của mình.Không bình luận, không nhận xét, người ta như thế nào trong lòng mình hiểu được rồi. Không cần la lên à anh ta thế này, ồ anh ta thế kia.  Tạo hóa tạo ra những con người khác nhau thổi vào đó những tính cách khác nhau. Họ như thế nào đó là quyền của họ, mình không có quyền phán xét.
5. Tuân thủ nguyên tắc
Trong mọi việc, hãy đặt ra nguyên tắc cho mình. Phải đảm bảo rằng nguyên tắc mình đặt ra tốt cho mình nhưng không hại đến ai. Và trên nguyên tắc đó mà sống và làm việc.
6. Với người tiểu nhân, đừng dây vào
Đã là tiểu nhân thì không phải là người tốt, vì thế đừng dây vào họ kẻo chuốc họa vào thân. Đối với tiểu nhân chỉ nên đứng xa mà quan sát đừng có áp vào kẻo thiệt thân.
7. Tôn trọng những người yêu thương mình
Hãy cảm ơn đời vì có ai đó yêu thương bạn và hết lòng vì bạn. Hãy trân quý tình cảm ấy và đừng bao giờ lấy tình cảm của họ ra làm trò đùa cho dù bạn không thích, cho dù người ta có khuyết điểm. Hãy đối xử với người ta như cách mình muốn nhận.
 8. Bình thản chấp nhận trước mọi chuyện
Cầm lên được thì hạ xuống được, phải luôn chủ động trong mọi tình huống.Cuộc đời không phải lúc nào cũng suôn sẻ và trải hoa hồng để bạn đi. Sông có khúc người có lúc. Bạn phải học cách chấp nhận những khó khăn và gập ghềnh trên đường đời. Cầm lên được là một loại dũng khí nhưng bỏ xuống được lại cần một loại ý chí.
 9. Quý trọng nhân duyên, nhưng tuyệt đối không được bài xích duyên phận không tốt
Nhân duyên trên thế gian có tốt có xấu. Trong hàng tỷ người trên thế giới việc gặp được ai đó đã là duyên. Gặp thoáng qua cũng là duyên phận. Lỡ may duyên phận không tốt hãy cố gắng khoan dung chứ đừng vội chối bỏ. Vì chẳng ai biết được trên đường đời và tương lai sẽ như thế nào. Nên tốt được với ai cứ tốt.
10. Đừng đem áp lực căng thẳng đổ lên đầu người khác
Trong cuộc đời đôi lúc sẽ có những chuyện không thuận lợi làm ảnh hưởng đến cảm xúc của bạn. Đừng vì áp lực công việc mà về nhà gây khó dễ cho người thân hay ngược lại. Như vậy, sẽ không bao giờ có lợi cho bạn. Hãy tập cách cân bằng cảm xúc.
11. Không lừa gạt người khác, cũng đừng để người lừa gạt
Đừng lừa gạt người và hạ thấp một ai đó chỉ để nâng cao giá trị của mình. Bởi giá trị của một người được xây dựng bởi nhiều yếu tố. Ngược lại, mình cũng cần nuôi dưỡng trí tuệ và khả năng nhìn nhận vấn đề để người khác không lừa được mình.
12. Phái nữ cũng nên coi trọng sự nghiệp và độc lập
Phụ nữ đừng bao giờ chỉ nghĩ đến gia đình, hãy quan tâm và lo cho sự nghiệp.Là một người phụ nữ độc lập, có sự nghiệp, có công việc, chắc chắn bạn sẽ thấy cuộc sống ý nghĩa hơn đến nhường nào.
13. Tận dụng thời gian rảnh để làm phong phú bản thân
Thay vì chơi những trò vô nghĩa hay nói chuyện phím, thời gian rảnh hãy làm phong phú bản thân. Hãy đọc một cuốn sách, học cách quản lý một công ty, xem xét tin thời sự, tìm hiểu pháp luật, hoặc học cách nấu một món ăn ngon…Bằng cách này bạn đã làm phong phú bản thân mình và biết đâu đấy nó có thể giúp bạn trong tương lai.
14. Chăm chút vẻ ngoài
Chăm chút vẻ ngoài không có nghĩa là bạn ăn diện, chi tiền triệu cho những bộ cánh hoặc trang sức. Chăm chút vẻ ngoài chỉ cần gọn gàng sạch sẽ thơm tho là đủ.
Rất nhiều người khi vừa gặp gỡ đã khiến người khác không muốn gặp lần thứ hai, nhưng có nhiều người lại để lại ấn tượng trong lòng người khác ngay trong lần gặp đầu tiên. Vẻ ngoài không phải quan trọng nhất nhưng không thể xem nhẹ nó.
15. Nói ít làm nhiều
Đừng bao giờ nói hết mọi kế hoạch của mình cho ai đó biết trước khi mình thành công, bản thân chúng ta thành công thì người khác ắt sẽ tự biết đến.Nên nói ít làm nhiều.
Nguồn: Sưu tầm
Nguồn: langnhincuocsong.com

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2016

GIÁ TRỊ CUỘC SỐNG – MỖI NGÀY NĂM PHÚT


Phút thứ nhất
Khi ta quan sát sâu, ta hiểu rõ mạng sống của con người chỉ ngắn như một hơi thở, thở ra không hít vào là đã qua đời khác, nên ta biết trân quý cuộc sống, trân quý thời gian, trân quý sức khỏe, trân quý tình thân. Ta dành thời gian và sức lực vào những việc có ích, có ý nghĩa. Ta không để mất thời gian vô ích để tham lam, để tranh giành, để hại người, để lừa lọc…
Phút thứ hai
Khi ta quan sát sâu, ta biết rõ cái gì mới thật sự cần thiết cho cuộc sống vui vẻ, bình an, hạnh phúc cho ta, gia đình ta. Nhìn thật kỹ càng, ta sẽ thấy: chưa chắc ta có nhiều tiền của, giành được địa vị cao, chức vụ lớn là ta sống an vui hạnh phúc. Như vậy, tiền bạc và chức quyền chưa chắc là quá cần thiết. Nhiều người khổ não, buồn đau là do không chánh niệm, thiếu tỉnh táo, cứ theo đuổi tìm cầu những thứ không thật sự cần thiết cho cuộc sống an vui của họ. Khi biết được như vậy, ta sẽ bớt thời gian, bớt sức lực, bớt lao tâm vào những thứ vật chất phù du hay danh vọng hảo huyền, mà suy nghĩ chân chánh thực tế.Quan trọng nhất là phải biết sống vừa phải, biết vui an lạc, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của chính mình, không so đo tính toán, hơn thua với người khác.
Phút thứ ba
Ta quan sát sâu để thấy rằng bất kể người giàu, kẻ nghèo, chấp gì khổ nấy, càng cố chấp càng khổ đau. Càng tham nhiều, càng khổ lắm. Ít chấp, ít tham cuộc sống sẽ ít nặng nề buồn khổ. Vì vậy, để có cuộc sống an vui, ta tập vui vẻ buông xả những thứ cố chấp trong ta. Mỗi ngày buông xả một ít, tập buông xả những thứ dễ xả trước, dần đến những thứ khó xả. Như vậy, phẩm chất cuộc sống của ta sẽ được cải thiện mà không tốn hao tiền của.
Phút thứ tư
Ta quan sát thực tế, thấy rõ tranh giành, thù hận, hơn thua, vinh nhục dù được hay mất cũng sẽ nhanh chóng tan theo mây khói. Cái còn lại chỉ là khổ đau, ân hận, dằn vặt mà thôi. Chỉ có sống theo tâm Từ Bi của Phật, tích cực sống tốt, gieo hạt giống lành, hành thiện tích đức, giúp người nghèo khổ, mới có ý nghĩa thật và bền vững. Tâm từ bi là chất liệu mang lại an vui hạnh phúc cho mình và cho người.
Phút thứ năm
Hiện nay, dù nói ra hay không nói ra, một bộ phận người đời vẫn lấy việc kiếm thật nhiều tiền của, có quyền có chức làm mục tiêu sống. Ai xác định mục đích sống đúng đắn, người đó sẽ sống vui hơn. Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy rằng, chỉ có Trí Tuệ và Phước Đức là hai thứ quý giá nhất của con người. Vì thế, ta thấy cần siêng năng tu tập, ngồi thiền, niệm phật, phát huy tuệ giác, không ngừng học hỏi, phát triển nghề nghiệp (trau giồi trí tuệ), tận tâm tận lực làm việc phước thiện, cứu giúp người nghèo khổ, bất hạnh (nuôi lớn phước đức). Thật ra, nâng cao trí tuệ và phước đức cũng chính là nâng cao mọi mặt phẩm chất của đời sống một cách chắc chắn và bền vững.
Ai lấy sự nâng cao trí tuệ và phước đức làm mục đích sống thì cuộc sống của người đó sẽ rất tuyệt vời, và là đang đi theo con đường thánh thiện minh triết của Đức Phật.
Mỗi ngày ta dùng năm phút để suy nghĩ thấu đáo những điều này, chắc chắn sẽ giải quyết bớt được những phiền muộn và cuộc sống của chúng ta sẽ lật sang trang mới.
                                    Ngồi thiền hay đi thiền
                                    Mỗi ngày chỉ năm phút
                                    Chú tâm và tỉnh giác
                                    Hiệu quả không thể ngờ
                                    Làm lắng mát thân hành
                                    Xoa dịu muôn cảm xúc
                                   Thêm sức khỏe trí nhớ
                                    Tăng ý chí định lực
                                    Vượt qua ngàn chướng ngại
                                    Chuyển hóa vạn sầu bi
                                    Tăng trí tuệ, đạo đức
                                    Cuộc sống sẽ sang trang
                                    Tương lai ta vững bước.
                                              Thích Hạnh Tuệ

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2016

CÓ MỘT CUỘC ĐỜI THÔI! – BẠN CÓ CÔNG NHẬN NHỮNG ĐIỀU DƯỚI ĐÂY LÀ ĐÚNG KHÔNG?



Bạn có  công nhận những điều dưới đây (là đúng) không?
Một chiếc máy Smart phone cao cấp, 70% chức năng là dư thừa.
Một chiếc xe Sedan hạng sang, 70% tốc độ là dư thừa.
Một căn biệt thự sang trọng, 70% diện tích là trống trải.
Một đội ngũ nhân viên phục vụ, 70% là kiếm cơm.
Một ngôi trường đại học, 70% giáo sư là chém gió.
Một đại đội hoạt động xã hội, 70% là nhàn rỗi trống rỗng.
Một căn phòng đầy quần áo thời trang mỹ phẩm, 70% là không mấy khi dùng đến.
Một đời người, cho dù kiếm thêm nhiều tiền nữa, 70% là để lại cho người khác tiêu xài.
Kết luận:
Cuộc sống vốn dĩ giản đơn, hưởng thụ cuộc sống trong khoảng 30% là được.
Cuộc đời như một cuộc đua:
Nửa hiệp đầu chạy đua với bằng cấp, quyền lực, địa vị, thành tích, lương bổng.
Nửa hiệp còn lại chạy đua với huyết áp, mỡ máu, đường huyết, acid uric, cholesterol…
Nửa hiệp đầu, nghe cấp trên mà phụng mệnh (theo mệnh lệnh).
Nửa hiệp sau, vạn sự tùy duyên mà theo… số mệnh!
Trong cuộc đời:
Không ốm cũng cần trải nghiệm,
Không khát cũng cần uống nước,
Buồn mấy cũng phải nghĩ thông,
Mình đúng cũng phải nhường người.

Có quyền cũng nên khiêm tốn,
Không mệt cũng nên nghỉ ngơi,
Không giàu cũng phải biết đủ,
Bận mấy cũng phải luyện rèn (thể lực).

Một chiếc áo giá 2 triệu, giá niêm yết có thể chứng minh.
Một chiếc xe 1 tỷ, hoá đơn xuất kho có thể chứng minh.
Một căn hộ 5 tỷ, bất động sản có thể chứng minh.
Một con người , rốt cục đáng giá bao nhiêu tiền?
Duy nhất chỉ có sức khỏe có thể chứng minh được điều đó.

Vậy, đừng tính toán bạn tiêu bao nhiêu tiền cho sức khoẻ!
VÌ… bạn không tiêu cho trước đó cũng phải tiêu cho … sau đó.
Quyền lựa chọn là ở bạn.
Không có sức khoẻ, Tài Sản, Tư Sản… cũng thành… Di Sản thôi!
*************************************************************
DỤC VỌNG
Một người tìm đến nơi thâm sơn gặp một nhà hiền triết ở ẩn, hy vọng sẽ tìm được lời giải cho những nghi hoặc trong lòng.
Hỏi:  Con người thường thất bại vì chính dục vọng của bản thân.  Vậy xin cho biết, thế nào là dục vọng?
Nhà hiền triết nói: “Anh hãy quay về đã, trưa mai lại tới đây, nhưng nhớ là không được ăn uống bất cứ thứ gì”.
Dù không hiểu dụng ý, nhưng người đàn ông vẫn làm theo.  Hôm sau, anh ta quay lại.
“Anh hiện giờ chắc đang đói ngấu, khát cháy cổ, đúng không?”,
“Vâng, giờ thì tôi có thể ăn cả nửa con bò, uống bay hết vại nước!”.
“Vậy hãy theo tôi”.
Hai người đi một quãng xa, khá lâu sau mới đến một vườn cây trái sum suê. Nhà hiền triết đưa cho người đàn ông một chiếc bao tải, nói:
“Bây giờ anh hãy hái cho anh những quả táo tươi ngon nhất ở đây, chúng là của anh, nhưng nhớ là phải mang về tới gặp tôi mới được ăn”.
Nhà hiền triết quay về trước. Mãi đến khi trời tối, mới thấy người đàn ông vác một bao tải nặng đầy táo mang về. Mồ hôi ướt đầm toàn thân, anh ta mệt mỏi đặt bao táo xuống.
“Giờ anh có thể ăn rồi”, nhà hiền triết nói.
Người đàn ông không đợi thêm, lập tức vồ lấy ba quả táo, cắn từng miếng to nhồm nhoàm nhai. Trong phút chốc, ba quả táo đã bị ăn sạch sẽ.  Ăn xong, người đàn ông đứng vuốt bụng, nhìn nhà hiền triết, nghi hoặc…
“Giờ anh còn đói, khát không?”
“Không, giờ có cho ăn tiếp cũng không ăn được nữa”.
Nhà hiền triết chỉ vào chiếc bao tải đầy táo:
“Vậy thì anh bỏ công vất vả, vác cả bao tải táo mà mình không thể nào ăn hết về đây để làm gì?”
Người đàn ông lập tức ngộ ra.
Nguồn:  exryu-ww

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2016

6 CÂU CHUYỆN NGẮN NHƯNG VÔ CÙNG Ý NGHĨA GIÚP CON NGƯỜI CẢM NGỘ ĐƯỢC NHIỀU ĐIỀU


Câu chuyện thứ 1:
Một vị thiền sư nhìn thấy một con bọ cạp bị rơi vào vũng nước, liền muốn cứu nó. Không ngờ vừa mới đụng tay vào, đã bị bọ cạp cắn vào tay. Vị thiền sư vẫn không sợ hãi, lại cho tay vào, nhưng lại một lần nữa bị con bọ cạp hung hăng cắn.
Vừa hay lúc đó, có một người đi ngang qua nói:“Con vật này xưa này hay cắn người, làm sao phải cứu nó?”. Thiền sư đáp: “Cắn người là bản tính của nó, còn Thiện là bản tính của tôi, tôi sao lại có thể vì bản tính của nó mà quên mất bản tính của mình được chứ!”
Cảm ngộ:
Sai lầm của chúng ta là ở chỗ, vì chịu tác động bởi ngoại cảnh mà thay đổi quá nhiều bản thân mình.
Câu chuyện thứ 2:
Nelson Mandela từng bị giam giữ và xúc phạm trong suốt 27 năm. Đến khi ông trở thành Tổng thống Nam Phi, ông đã mời 3 người cai ngục từng canh giữ ông trong thời gian chốn lao tù đến gặp mặt. Khi Mandela đứng dậy cung kính chào 3 vị này thì mọi người có mặt và trên toàn thế giới đều phải tĩnh lặng.
Ông nói: “Khi tôi bước ra khỏi phòng giam của mình, đi qua cánh cổng nhà tù để được tự do, tôi đã hiểu rõ ràng rằng, nếu không thể để nỗi đau của riêng mình và oán giận ở lại đằng sau, thì tôi vẫn là còn ở trong tù”.
Cảm ngộ:
Tha thứ cho người khác, nhưng thực ra là giải thoát chính mình.
Câu chuyện thứ 3:
Có một người hỏi vị nông phu: “Trồng loại lúa mì nhé?”. Nông phu đáp: “Mỗi ngày đều phải chăm sóc nó thật tốt! Không, tôi sợ rằng trời sẽ không mưa”. Người kia lại hỏi: “Vậy ông trồng bông không?”, nông phu nói: “Không, tôi lo lắng sâu sẽ ăn bông”. Người kia hỏi tiếp: “Vậy ông sẽ trồng loại cây gì?”. Nông phu nói rằng: “Cây gì cũng không được, tôi muốn đảm bảo chắc chắn an toàn”.
Cảm ngộ:
Mọi điều đều không muốn nỗ lực, đều không muốn mạo hiểm, luôn sợ rủi ro, những người vô tích sự như vậy đương nhiên sẽ không làm nên việc gì.
Câu chuyện thứ 4:
Có một con quạ đang bay trên đường thì đụng phải một ngôi nhà chim bồ câu. Bồ câu hỏi:“Bạn muốn bay đi đâu?”. Quạ nói: “Thực ra là tôi không muốn đi, nhưng vì mọi người đều lo ngại rằng tiếng kêu của tôi không tốt lành, cho nên tôi phải rời đi”. Bồ câu nói với quạ: “Vậy thì tốt nhất là bạn đừng phí công vô ích! Nếu bạn không thực sự thay đổi tiếng kêu của mình thì cho dù bạn đi đến chỗ nào cũng sẽ đều không được chào đón”.
Cảm ngộ:
Nếu bạn mong muốn hết thảy mọi thứ xung quanh mình trở nên tốt đẹp, thì trước tiên hãy thay đổi chính mình.

Câu chuyện thứ 5:
Một gia đình có 3 người con trai, lũ trẻ từ nhỏ đã phải lớn lên trong tiếng cãi vã giữa cha mẹ, mẹ của chúng thường xuyên bị đánh tới mức thương tích khắp người. Người anh cả nghĩ: “Mẹ của mình thật đáng thương! Ta sau này nhất định sẽ đối xử tốt với vợ của mình”. Người anh thứ 2 nói: “Hôn nhân thật vô nghĩa, ta khi trưởng thành nhất định sẽ không kết hôn”. Người em út nói:“Hóa ra, làm chồng là có thể đánh đập vợ mình như vậy!”
Cảm ngộ:
Với cùng một hoàn cảnh nhưng sẽ có những lối suy nghĩ khác nhau, cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống sau này. Vì vậy, là cha mẹ ngoài việc giáo dục con cái bằng những hành động gương mẫu của mình, thì lời nói cũng vô cùng quan trọng.

Câu chuyện thứ 6:
Có một vị tiểu hòa thượng phụ trách quét dọn lá rụng trong chùa, mỗi ngày phải cần rất nhiều thời gian mới có thể quét xong. Một người nói với anh ta: “Ngươi hãy rung cái cây thật mạnh cho lá rụng xuống rồi hãy quét, như vậy ngày mai sẽ không phải quét nữa!”. Tiểu hòa thường nghe vậy thấy cũng có lý, liền cao hứng làm theo, nhưng ngày hôm sau lá lại vẫn rụng khắp sân chùa như cũ. Mặc cho người này hôm nay ra sức rung mạnh cây, ngày mai lá vẫn lại rụng xuống như vậy.
Cảm ngộ:
Mọi việc đều không thể nóng lòng làm cho xong, làm tốt việc của ngày hôm nay, chính là có trách nhiệm với cuộc sống của mình vậy.
Sưu tầm

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2016

TÍCH XƯA: CAO NHÂN CHÂN CHÍNH!


Thế nào gọi là cao nhân?
Tương truyền, Tả Tông Đường rất thích chơi cờ vây, hơn nữa còn là một cao thủ, gần như không có ai là đối thủ của ông.
Có một lần, Tả Tông Đường cải trang trước khi xuất chinh đánh trận, trên đường bỗng nhìn thấy một ngôi nhà tranh, trên xà nhà có treo tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ”. Tả Tông Đường thấy thế thì trong lòng không phục, liền đi vào trong để cùng chủ nhân ngôi nhà đánh ba ván cờ.
Vị chủ nhà đánh ba ván đều thua, Tả Tông Đường cười nói: “Ông nên tháo tấm biển kia xuống đi!”
Nói xong, Tả Tông Đường tràn đầy tự tin, cao hứng bừng bừng mà rời đi.
Không lâu sau, Tả Tông Đường thắng trận trở về, lại đi ngang qua ngôi nhà ấy, thấy tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ” vẫn chưa được gỡ xuống, Tả Tông Đường tức giận đi vào trong nhà để cùng vị chủ nhân tỷ thí ba ván cờ nữa.
Lần này, Tả Tông Đường thua cả ba ván.
Tả Tông Đường vô cùng kinh ngạc, liền hỏi vị chủ nhân tại sao lại như vậy.
Vị chủ nhân đáp: “Lần trước, ngài tuy mặc thường phục nhưng ta đã sớm biết ngài là Tả Công, ngài mang trên mình nhiệm vụ đánh giặc, ta không thể dập tắt nhuệ khí chiến đấu của ngài. Lần này, ngài đã chiến thắng trở về, ta đương nhiên toàn lực ứng phó, việc đáng làm thì ắt phải làm, không thể nhượng bộ!”
Cao thủ chân chính trên thế gian, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại, ấy là vì có tấm lòng khiêm nhượng, thiện tâm với người.
Cuộc sống chẳng phải là như vậy sao?
Thông minh không nhất định là có trí tuệ, thế nhưng trí tuệ thì nhất định bao quát thông minh.
Người thông minh tâm nặng chuyện được mất, người trí tuệ có thể dũng cảm xả bỏ.
Tai thính thật sự thì có thể nghe được tiếng lòng, mắt sáng thật sự thì có thể nhìn thấu tâm linh.
Chứng kiến, không có nghĩa là nhìn thấy.
Nhìn thấy, không có nghĩa là nhìn rõ.
Nhìn rõ, không có nghĩa là hiểu được.
Hiểu được, không có nghĩa là hiểu rõ.
Hiểu rõ, không có nghĩa là đã thông suốt.
Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Không có văn hóa thì thật đáng sợ!”. Thế nhưng “văn hóa” ấy rốt cuộc là cái gì vậy? Là bằng cấp? Là kinh nghiệm? Hay là sự từng trải?
Đáp án: Tất cả đều không phải!
Ngày hôm nay, coi như chúng ta đã được thấy một lời giải thích thuyết phục, “văn hóa” ấy chính là biểu đạt bởi bốn điều sau đây:
Đào sâu vào tu dưỡng nội tâm.
Tự giác không cần nhắc nhở.
Lấy ước thúc làm tiền đề cho tự do.
Suy nghĩ lương thiện vì người khác.
Theo: NTDTV | Dịch giả: Minh Nữ (24.02.2016).

CẢ ĐỜI CHỈ CẦN NHỚ 3 CÂU DƯỠNG SINH CỦA NHO GIA, PHẬT GIA VÀ ĐẠO GIA NÀY LÀ ĐỦ


Đạo dưỡng sinh của Nho gia: Nhân giả Thọ – người nhân ái thì trường thọ!
Trong “Luận Ngữ” của Khổng tử Nho gia có viết “Nhân giả thọ”; trong sách “Trung Dung” luận về người đại đức “ tất đắc kỳ Thọ” (tự đạt được sự trường thọ), tức là thuật trường sinh và đạo đức đều có quan hệ. Trong sách “Xuân Thu Bàn Lộ”, Đổng Trọng Thư có viết : “Cố nhân nhân chi sở dĩ đa thọ giả, ngoại vô tham nhĩ nội thanh tĩnh, tâm bình hòa nhĩ bất thất trung chính, thủ thiên địa chi mỹ, dĩ dưỡng kỳ thân, thị kỳ thả đa thả trị.”
Giải nghĩa:
“Nguyên nhân mà người nhân ái, từ tâm được trường thọ, vì họ bên ngoài không tham mà bên trong thanh tĩnh, tâm bình hòa mà không mất sự trung chính (công bằng chính trực), đạt được điều tốt đẹp của thiên địa, lấy đó dưỡng thân tâm, chính là vừa có được trường thọ vừa chế ước ngôn hành của bản thân.”
Về phần tham cầu theo đuổi ngoại vật, thì để có thể bảo trì tâm cảnh bình hòa, nên để cho chính bản thân mình tiếp xúc nhiều với những sự vật thuần tịnh mỹ thiện, lấy đó dưỡng hộ mắt, tai, mũi, miệng, ý. Khiến cho các khí cơ trong thân thể hoạt động và điều tiết thông thuận, từ đó mà đạt được mục đích bảo dưỡng thân tâm.
Đạo dưỡng sinh của Thích gia: Tâm giản dị
“Sủng nhục bất kinh, đắc thất bất kế, mặc lôi chỉ báng, hóa hủy vi duyên”.
Giải nghĩa:
“Được thương yêu hay chịu khuất nhục đều không nhiễu loạn, kinh sợ hay lay động; đối với được hay mất đều không kể tính; dùng sự im lặng thay thế sấm nổ, lấy đó mà dừng lại sự phỉ báng, dèm pha; biến sự hủy hoại, phỉ báng đó chuyển thành duyên phận.” 
Người xuất gia yêu cầu coi nhẹ danh lợi, nhân từ hành thiện, hoài bão khoáng đạt, nhẫn nhục tự trọng. Những cao tăng trường thọ đều là đặc tính ôn hòa, cuộc sống bình đạm, chung sống với người khác hài hòa, dung hợp.
Đạo dưỡng sinh của Đạo gia: Đạo Pháp tự nhiên
Trong “Đạo Đức Kinh”,  Lão tử viết: “Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên”. (Dịch: “Người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên”)
Trong “Trang tử – Dưỡng sinh chủ biên” có viết “An thời xứ thuận” (“An định theo bổn phận, tùy thời tùy nơi đều thuận theo tự nhiên.”)
Trong “Hoàng đế nội kinh” có viết: “Khởi cư hữu thường, ẩm thực hữu tiết, bất vong tác lao.”
“Cuộc sống sinh hoạt hàng ngày đều theo quy luật thường nhật, ăn uống có tiết chế, lao động làm việc không quá độ – không đi ngược lại quy luật thông thường, làm điều xằng bậy.”
Trong “Dưỡng Sinh Diên Mệnh Lục”, đạo sĩ Đào Hoàng Cảnh viết: “Mạc cửu hành, cửu tọa, cửu ngọa, cửu thị, cửu thính. Mạc cường thực ẩm, mạc đại trầm túy, mạc đại ưu sầu, mạc đại ai tư, thử sở vi năng trung hòa. Năng trung hòa giả, tất cửu thọ dã.”
Giải nghĩa:
“Đừng trong nhất thời mà làm quá nhiều, ngồi quá lâu, nằm quá nhiều, nhìn quá lâu, nghe quá nhiều. Không nên ăn quá nhiều, đừng uống quá nhiều rượu đến nỗi say sưa, cũng đừng quá nhiều ưu sầu, đừng quá nhiều suy nghĩ bi ai, [chính là không nên quá phận], làm được điều này thì có thể trung hòa. Người có thể trung hòa, tất trường thọ vậy.”
Cũng chính là lấy Thiên Nhân hợp nhất, thuận theo đạo Thiên Địa mà hành, được xem là tôn chỉ dưỡng sinh.
Lão tử nói “Thiểu tư quả dục” (“Giảm thiểu tư dục – ham muốn cá nhân.”); Trong “Thái Thượng Lão Quân Dưỡng Sinh Quyết” Ngô Phổ viết: “Thiện dưỡng sinh giả, yếu đương tiên trừ lục hại, nhiên hậu khả bảo tính mệnh diên trụ bách niên. Hà giả thị yã? Nhất giả bạc danh lợi, nhị giả cấm thanh sắc, tam giả liêm hóa vật, tứ giả tổn tư vị, ngũ giả trừ nịnh vọng, lục giả khứ đố tật.”
Giải nghĩa:
“Người thiện giỏi về dưỡng sinh, cần trước tiên trừ bỏ lục hại, sau đó có thể bảo trì tính mệnh kéo dài trăm năm. Vậy đó là như thế nào? Thứ nhất là xem nhẹ danh lợi, thứ hai là cấm thanh sắc, thứ ba là liêm khiết, trong sạch đối với tài vật, thứ tư là giảm thiểu mùi vị cảm thụ, thứ năm là trừ bỏ xiểm nịnh si mê vọng tưởng, thứ sáu là buông bỏ tật đố.”
Chủ động tiết chế dục vọng chính là đạt đến con đường dưỡng sinh thanh tĩnh.
Dưỡng sinh là việc làm trường kỳ, không thể nội trong một thời gian ngắn “nhất thúc nhi tựu” (một cước mà được), quý trọng tại kiên trì. Chỉ cần hiểu rõ đạo lý rồi thực hành, tiến bước tuần tự, thì có hy vọng đạt đến kiện khang, trường thọ.
Theo Letu.life
Tuệ Minh biên tập

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2016

CON NGƯỜI DÙ XẢO BIỆN ĐẾN ĐÂU CŨNG KHÔNG THỂ GẠT THẦN PHẬT



Con người với vẻ ngoài khôn lanh, giảo hoạt, làm nhiều việc xấu nhưng lại giấu giếm đi một cách khôn khéo, nghĩ rằng sẽ che mắt được tất cả. Tuy nhiên, con người không thể gạt Thần Phật, cho dù có tinh khôn lanh lợi đến đâu, lúc thác rồi chắc chắn sẽ phải hoàn trả nghiệp mình từng gây ra.

Con người ta trong đời làm gì, dù có gian xảo che mắt được thường nhân, nhưng không thể gạt được Thần Phật. 
(Ảnh minh họa từ Internet)

Vào triều Minh tại thị trấn miền núi tỉnh Tứ Xuyên có một vị quan họ Ngô nức tiếng thanh liêm. Dân làng ai ai cũng kính trọng vị quan này vì ông luôn tỏ ra chính trực, đối đãi tử tế với mọi người.
Bản thân vị quan cũng cảm thấy tự hào về mình, ông cho rằng mình tích vạn Đức, chắc chắn sống thọ và viên mãn. Một ngày nọ trong trấn xảy ra tranh chấp giữa hai hộ dân, chẳng qua chỉ vì vài mét đất, nhưng vì là đất buôn bán dễ kiếm tiền nên không ai nhường ai. Tranh cãi một hồi cuối cùng hai người bèn lôi nhau lên quan để phân xử.
Sau khi nghe đôi bên trình bày, quan họ Ngô bảo hai người chờ vài hôm quay lại để nghe phân xử. Quan cho hộ vệ đi xem xét nơi hai người tranh chấp thì quả thật đó là một nơi sầm uất buôn bán rất tốt, nửa tấc đất thôi cũng đáng giá lắm rồi. Nghe vậy quan họ Ngô nổi lòng tham, nhưng ông đang tính kế làm sao để thu về phần tranh chấp đó càng khéo càng tốt mà vẫn đảm bảo mình là quan thanh liêm.
Tối hôm đó, quan trằn trọc không ngủ được, bỗng dưng  thấy có hai người mặc đồ đen từ đâu xuất hiện đứng đầu giường và lệnh cho quan theo họ. Quan ngạc nhiên gọi gia nhân nhưng không hiểu sao không thể thốt lên lời và cứ thế thấy mình bị hai người mặc áo đen kéo đi đến nơi nào đó càng lúc càng tối.
Một hồi lâu, quan họ Ngô thấy mình đang ở trong căn phòng trang nghiêm, có một vị Vương chủ nhìn rất oai phong ngồi trên chiếc ngai. Vị Vương chủ đó trông rất phi thường. Quan họ Vương thấy mình bị quỳ phủ phục dưới đất, mà không cách nào đứng lên được. Ông thấy vô cùng sợ hãi không hiểu đây là nơi nào.
Vị Vương chủ cất tiếng sang sảng: “Người này sinh thời làm quan không làm tròn chức trách, phạm nhiều tội bất dung, nay cho ngâm vào vạc dầu và giao cho quỷ sứ chiểu theo hình phạt mà tiến hành”.
Quan họ Ngô nghe xong giật mình kinh sợ, hóa ra ông đang ở địa ngục. Ông vội la lớn: “Có phải Diêm vương không? Xin ngài xem lại cho tôi, tôi là quan thanh liêm, dân trấn ai ai cũng yêu phục, làm sao có thể chịu tội ngâm vạc dầu được chứ? Oan quá, oan quá”.
Vị Vương chủ không nói gì, bảo tùy tùng đưa cho quan họ Ngô xem bản ghi chép, hóa ra là sổ ghi nghiệp đức của từng người. Trong bản ghi chép ghi rất rõ về quan họ Ngô, chép rằng: “Quan họ Ngô từng thông dâm với tỳ nữ và ép uống thuốc trụy thai. Quan họ Ngô lạm dụng tiền ngân sách trên cấp cho trấn, quan họ Ngô cướp đất của dân …”.
Quan họ Ngô đọc xong sững người, hóa ra mọi hành động của ông dù được che giấu khéo léo là thế, không ai hay biết, mà vẫn bị ghi chép vào sổ ghi nghiệp đức ở dưới cõi Âm ty. Ông còn chưa kịp xin tha mạng thì đã bị quỷ sứ nhìn thật gớm ghiếc tới lôi đi xềnh xệch.
Quan họ Ngô giãy giụa thế nào cũng không thoát nổi, la hét ầm ĩ.
Bỗng dưng quan họ Ngô chợt tỉnh, hóa ra ông vừa trải qua một giấc mộng khủng khiếp. Nhưng giấc mộng ấy rõ mồn một và lại tái hiện ngay trước mắt ông từng chi tiết một. Cảm giác bị đôi bàn tay như gọng kìm của quỷ sứ túm cổ vẫn còn khiến ông nghẹt thở, dù là mộng.
Ngẫm lại, ông biết đó chính là sự nhắc nhở đối với mình, báo trước những gì ông sẽ phải hứng chịu sau khi thác đi. Kể từ sau lần ấy, quan họ Ngô đã thay đổi hoàn toàn về bản chất, ông không còn sống giả tạo trước mặt dân chúng mà chăm làm việc thiện, liêm khiết chính trực thực sự. Về sau ông lên chùa cạo đầu quy y cửa Phật, rũ bỏ mọi thứ dơ bẩn trần tục của cõi thường nhân để trả nghiệp mình gây ra.
Câu chuyện trên cho chúng ta thấy một điều, con người phàm làm bất cứ điều gì về sau chắc chắn phải trả đủ. Những hành động  tội lỗi có thể được che giấu khôn khéo bằng trí xảo biện và tinh ranh để qua mắt người thường, nhưng Thần Phật đều thông tường và ghi nhận, không cách nào thoát tội lúc xuống cõi  Âm ty.
Theo minhbao.net

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015

ĐÚNG LÚC – MỘT LỜI ĐỘNG VIÊN CHÂN THÀNH, ĐÚNG LÚC CÓ THỂ SẼ LÀM THAY ĐỔI ĐƯỢC SỐ PHẬN CỦA MỘT NGƯỜI!

Dong viên
giac-ngo-tu-hanh

Một câu nói vô tình chỉ thuận tiện nói ra lại ảnh hưởng đến cuộc đời của một người thanh niên
Nhà văn Đài Loan – Lâm Thanh Huyền hồi còn là học sinh cấp hai, học lực và hạnh kiểm của ông đều là xếp loại kém, còn nhớ ông có hai lần mắc lỗi nghiêm trọng và hai lần lỗi nhẹ, cho nên đã bị lưu ban, thậm chí còn bị đuổi ra khỏi ký túc xá của trường.
Rất nhiều thầy cô đã không còn hi vọng gì vào ông, nhưng thầy giáo dạy văn Vương Vũ Thương lại không hề ghét bỏ ông, thường hay đưa ông về nhà ăn cơm, khi thầy bận việc phải nghỉ, còn bảo Lâm Thanh Huyền mang bài lên lớp cho các bạn.
Thầy giáo Vương nói với Lâm Thanh Huyền rằng: “Thầy đã dạy học 50 năm, liếc mắt đã nhận thấy con là một học sinh có tài năng”.
Những lời nói này đã khiến cho Lâm Thanh Huyền vô cùng cảm động và bị chấn động sâu sắc trong lòng. Để không phụ lòng nỗi khổ tâm của thầy giáo, ông từ đó về sau nỗ lực cố gắng, quyết tâm làm một người có ích cho xã hội.
Quả nhiên, mấy năm sau, Lâm Thanh Huyền đã trở thành một phóng viên, trong một bài báo viết về tên tội phạm trộm cắp, ông cảm thấy tên trộm này có một tư duy rất tinh tế, thủ pháp gây án rất tinh vi tỉ mỉ, sau cùng không kìm được lòng mình ông đã viết ra rằng: “Một tên trộm với tư duy tinh tường, thủ pháp khéo léo và một tác phong đặc biệt như vậy, nếu hắn làm bất luận việc gì cũng sẽ đều có thành tựu”.
Ông không từng nghĩ, một câu nói vô tình chỉ thuận tiện mà nói ra như vậy, lại ảnh hưởng đến cuộc đời của một thanh niên. Hai mươi năm sau, tên trộm năm đó đã lột xác, hắn đã làm lại từ đầu, trở thành một vị chủ doanh nghiệp có chút tiếng tăm.
Trong một lần bất ngờ gặp Lâm Thanh Huyền, ông chủ doanh nghiệp này đã chân thành nói: “Bài viết đặc biệt của Lâm tiên sinh ngày đó đã thắp sáng lên điểm mù trong cuộc đời tôi, nó khiến tôi nghĩ rằng, ngoài việc làm tên trộm ra, tôi còn có thể làm được việc đúng đắn”.
Một câu nói có thể trở thành ánh mặt trời sưởi ấm cuộc đời người khác, có thể đem lại cho họ một cuộc đời ấm áp và rực sáng.
 Sức mạnh của một câu nói lớn đến mức độ nào?
 Khi đối mặt với một người đang lầm lỗi, đang bị những lời nói cay độc vây quanh, một câu nói chứa đựng sự quan tâm, yêu thương che chở và khích lệsẽ tựa như một ngọn lửa bùng cháy, nó đem lại cho người ta sự ấm áp, và nhen nhóm lên trong sâu thẳm nội tâm người ta một ngọn lửa của sự tự tin và tự tôn. Nó khiến người ta được tái sinh mà cố gắng hăm hở, tích cực hướng lên.
Khi một người bị rơi vào cảnh tuyệt vọng, xung quanh mờ mịt không rõ phương hướng, một câu nói chỉ bảo, thăm hỏi an ủi và tán thưởng. Giống như một ngọn đèn soi đường, giúp cho họ từ trong bóng tối mà nhìn được ánh sáng của con đường phía trước, vì thế mà phá tan được màn đêm sương mù dày đặc mà bước ra thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn.
Kinh nghiệm của Lâm Thanh Huyền cho chúng ta biết: Một câu nói có thể trở thành ánh mặt trời sưởi ấm cuộc đời người khác, có thể đem lại cho họ một cuộc đời ấm áp và rực sáng.
(Sưu tầm)

Thứ Tư, 16 tháng 12, 2015

TÂM LƯỢNG CÀNG LỚN, TRÍ TUỆ CÀNG LỚN, HẠNH PHÚC CÀNG LỚN


Cùng một loại sự việc nhưng mỗi người lại có cách nhìn nhận khác nhau. Điều này không chỉ phụ thuộc vào tính “trọng đại” của sự việc đó, mà còn quyết định bởi độ nông sâu trong tâm hồn mỗi người.
Tôi làm cùng phòng với một người bạn, nhưng anh này chưa bao giờ chủ động chào hỏi, hay bắt chuyện với tôi. Vì thế, điều tôi nhìn thấy ở anh ta là sự lạnh lùng và thiếu tôn trọng.
Nhưng em gái tôi lại có một lý giải khác: “Anh ấy có một tuổi thơ bất hạnh, sống trong hoàn cảnh khó khăn, tạo thành tính cách thiếu hòa hợp, lúc nào cũng tự cô lập bản thân mình!”
Với cùng một sự việc, mỗi bên lại có cách nhìn khác nhau. Rất hiển nhiên, tôi chỉ vòng quanh ở cái vỏ bề ngoài, còn em gái tôi tìm hiểu ở tận sâu bên trong, vậy nên, cảm nhận được chỗ khác biệt, đối đãi với vấn đề đương nhiên cũng khác nhau rồi!.
Tình huống này cũng giống với câu chuyện cổ về một ly nước và một hồ nước mà tôi đã từng đọc trước đây.
Một vị đại sư có người đệ tử lúc nào cũng than trời trách đất. Một ngày kia, vị đại sư sai người đệ tử này đi chợ mua một bao muối.
Sau khi người đệ tử trở về, đại sư nói cậu ta bốc một nắm muối bỏ vào trong một ly nước rồi uống một ngụm.
Đại sư hỏi: “Mùi vị thế nào”.
Đệ tử chau mày đáp lại: “Mặn đến không chịu được!”.
Vị đại sư dẫn đệ tử đến bên hồ nước, bảo cậu đổ ly nước muối còn thừa lại vào trong hồ, sau đó nói: “Con hãy uống thử nước trong hồ này xem.”
Người đệ tử làm theo đúng như vậy, cúi xuống hồ nước uống một ngụm, đại sư lại hỏi: “Bây giờ là mùi vị như thế nào?”. Người đệ tử mặt mày rạng rỡ khen:“Rất ngọt và thanh khiết!”
Đại sư lại hỏi: “Con có nếm được vị mặn không?”, người đệ tử quả quyết trả lời: “Không có!.”
Đại sư gật đầu, mỉm cười nói với đệ tử rằng: “Nỗi đau trong cuộc đời cũng giống như muối kia vậy, có mặn hay không quyết định bởi vật chứa đựng nó.”
Đối chiếu với câu chuyện, tôi chính là giống như chén nước, còn em gái tôi thì lại là cái hồ kia vậy, ai hơn ai kém, lập tức phán xét được ngay.
Điều này cũng có nghĩa là: Trí tuệ lớn từ tâm lượng lớn, tâm lượng càng lớn thì thế giới của người đó càng lớn.
Đại văn hào Victor Hugo có câu nói nổi tiếng: “Trên thế giới rộng lớn nhất chính là biển cả, lớn hơn biển cả chính là bầu trời, lớn hơn bầu trời chính là lòng bao dung của con người.”
Tâm hồn phóng khoáng, ung dung tự tại, có thể bao dung hết thảy, chính là cái gốc cho hạnh phúc của một đời người, còn đi tìm nơi đâu nữa…
Nguồn: Epoch Times (tinhhoa.net)

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

THỊT RÙA NGON


Người Thượng Hải có câu đầu môi như thế này: “hiện thế báo”, nghĩa là việc làm trong hiện tại, trả báo đến ngay hiện đời, chẳng đợi sang kiếp sau mới báo.
Ở Thượng Hải có Vương tiên sinh, bình thường rất ưa ăn thịt rùa, nhưng cách chế biến thức ăn của ông rất khác người. Ông chế nước ngập nồi, dùng nắp đậy kín nồi (ở giữa nắp có khoét một lỗ hổng to cỡ đầu rùa), ông bỏ rùa sống vào, sau đó mới đun lửa.
Khi nước trong nồi dần nóng lên, con rùa bị độ sôi nung nấu đau không chịu nổi, nó bèn thò đầu lên lỗ hổng đó há miệng thở, lúc này ông đem nước sốt gia vị đã thắng sẵn, đang sôi rót vào miệng rùa, ép nó rụt đầu vào chảo lại. Mục đích của ông là để cho nó gia vị thẩm thấu vào toàn thân rùa, như vậy thịt rùa sẽ rất ngon. Nhưng ông chẳng mảy may nghĩ đến nỗi thống khổ của rùa, bên trong thì nước sôi làm bỏng tâm can, bên ngoài thì bị nung đốt. Con rùa đang sống mà ông hành hạ nội công ngoại kích thật dã man. 
Chưa hết, rùa đang oằn oại, đau đớn giẫy giụa trong nước nóng, rồi chịu không nổi độ nước sôi hành hạ giày vò, muốn trốn cũng không có cửa, cầu sống không có đường, thế là nó đành nhô đầu ra khỏi cái lỗ hổng trên nắp để giải nhiệt tiếp. Lúc này Vương tiên sinh tàn nhẫn lại tiếp tục rưới nước gia vị đun nóng (có đủ muối, dầu, giấm, ớt, tiêu) rùa bỏng rát cả lòng vội rút đầu xuống, cảnh thò thò, rụt rụt cứ thế tái diễn nhiều lần và cuối cùng thì rùa chết đi trong tột cùng thống khổ. Vì tham ăn sướng miệng, mà Vương tiên sinh đành tâm giết hại quá tàn nhẫn.
Rồi hôm đó Vương tiên sinh cũng dùng xong món thịt rùa. Mười mấy ngày sau, một đêm nọ ông đang nằm ngủ tại căn gác, thì tầng trệt bỗng dưng phát hỏa, lửa thiêu rụi cả cầu thang, cháy lan tới phòng ngủ của ông, thiêu đến chăn mền, thì ông mới giật mình tỉnh dậy.
Trong lúc kinh hoảng ngơ ngác ông định xuống lầu lánh nạn thì thấy cầu thang gỗ đã cháy mất tiêu. Phía dưới giờ là một biển lửa vô phương đi xuống. Ông muốn chui ra cửa sổ để sinh tồn nhưng song cửa sắt khe hở quá hẹp, nên dù ông tận lực chui ra mấy lần cũng không thể, chỉ ló được cái đầu ra, và mắc kẹt ngay tại đó, vô phương tiến thoái.
Ông đang gào thét thì xe cứu hỏa đến, lửa dữ cháy tràn lan trên đất, đầu ông bị kẹt nơi song sắt như bị nướng nóng thêm, ông há to miệng gào thét kêu cứu, viên cứu hỏa cầm vòi nước không ngừng xịt vào chỗ song cửa, ông bị nước sôi bắn vào miệng đau đớn hệt như cảnh ông hành con rùa xưa kia. Cái đầu kẹt ngoài song không ngừng nuốt nước sôi, lúc đó có lẽ ông cũng thấm thía nỗi khổ thảm thiết mà con rùa đã nếm. Và cứ thế, Vương tiên sinh cuối cùng chết trong biển lửa.
Cách thức giết rùa ăn của Vương tiên sinh đã khiến ông phải nếm trải khổ hình tương tự, nhân quả báo ứng quả thực không dối. Khi sống ta dùng ác tâm giết hại loài vật thế nào, thì sẽ bị chính ác tâm ấy làm hại mình. Đây chính là Vương tiên sinh tự khiến mình rơi vào lò nửa thiêu nóng.
Trong Kinh Pháp cú ghi:
Yêu nghiệt mà gặp phúc
Là ác kia chưa chín
Đến khi quả ác chín
Thì tự thọ tội khốc liệt.
Vương tiên sinh nhận thọ quả báo, thực khiến người ta phải kinh sợ, cảnh ông chết thật là đau đớn khó kham. Phải hiểu là ta giết bất kỳ động vật như thế nào thì sẽ bị báo ứng tương đương vậy. Mong những vị ưa sát sinh hãy suy nghĩ mà cẩn trọng.
(Trích Báo ứng hiện đời – Quả Khanh)

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015

HỌA TỪ MIỆNG MÀ RA: TRƯỚC KHI NÓI HÃY DÙNG “BA CÁI SÀNG” NÀY ĐỂ LỌC

HỌA TỪ LỜI NÓI

Có một lần, một người bạn của Socrates vội vàng chạy tới tìm anh ta, cậu bạn này vừa thở vừa cao hứng nói: “Mình nói với cậu chuyện này, đảm bảo là ngoài sức tưởng tượng của cậu.”
“Chờ chút!” Socrates vội vã ngăn cậu ta lại và nói: “Những lời mà cậu định nói với mình, cậu đã dùng ba “cái sàng” để lọc qua chưa?’
Anh bạn của Socrates với vẻ mặt không hiểu, lặng im và lắc đầu.
Socrates nói: “Lúc mà cậu muốn nói cho người khác một việc gì đó, ít nhất cũng nên dùng ba “cái sàng” lọc qua một lượt. Cái thứ nhất gọi là chân thật, cậu phải xem xem chuyện mà cậu muốn nói cho người khác có đúng sự thậtkhông?“
Anh bạn tiếp lời: “Mình là nghe được trên đường đi tới đây, mọi người đều nói như vậy chứ mình cũng không biết là có đúng sự thật không.”
Socrates lại nói tiếp: “Vậy thì nên dùng “cái sàng” thứ hai của cậu để kiểm tra đi, nếu như nó không phải là sự thật, thì ít nhất cũng là có thiện ý chứ? Chuyện mà cậu muốn kể với mình có phải là có thiện ý không?”
Anh bạn nghĩ nghĩ một chút rồi nói: “Không có, thậm chí còn ngược lại nữa”, người bạn này nói xong dường như anh ta cảm thấy chút xấu hổ liền cúi mặt xuống đất.
Socrates không ngần ngại mà nói tiếp: “Vậy thì chúng ta lại dùng cái sàng thứ ba xem thử xem, việc mà cậu vội vã để nói cho mình biết có phải là việc quan trọng không?”
“Cũng không phải là quan trọng!”
“Một việc không quan trọng mà lại không xuất ra từ thiện ý, hơn nữa cậu cònkhông biết có phải là sự thật không, thế thì cậu cần gì phải nói ra? Nói ra cũng chỉ tạo thành phức tạp cho hai người chúng ta mà thôi.”
Socrates cũng từng nói: “Đừng nghe và tin vào lời nói của những người bàn luận thị phi hay là người gièm pha, phỉ báng. Bởi vì lời mà họ nói cho bạn không phải là xuất từ thiện ý, họ đã vạch trần việc riêng tư của người khác thì đương nhiên cũng sẽ làm như vậy với bạn.”
Vì vậy, mọi người trước khi muốn nói ra một chuyện gì đó hãy dùng ba cái sàng để lọc một lượt, không làm người đầu tiên đưa đẩy thị phi thì đương nhiên cũng đừng để bị người khác lợi dụng làm người truyền bá thị phi.
Lời đồn đại còn đáng sợ hơn dao kiếm, nó có thể làm sát thương người khác một cách vô hình. Người đồn đại những tin đồn không có thật chẳng khác nào đang vui vẻ trên nỗi thống khổ của người khác. Nói chuyện sẽ phản ánh trí tuệ của một người, trong cuộc sống hàng ngày chúng ta hãy thận trọng từ lời nói đến việc làm nhé!
Sưu tầm​

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2015

TÌM VỀ NGUỒN AN LẠC THÂN TÂM

An lạc

                          


            A. DẪN NHẬP
Đạo khai mở nhằm mục đích giúp con người biết đâu là bờ giác để tìm thấy được nguồn an lạc nơi thân tâm và tránh gây thêm nhiều nghiệp quả để rồi phải chịu khổ đau luân hồi sanh tử. Tuy nhiên phần lớn trong chúng ta vẫn chưa thật sự cảm nhận được một nguồn an lạc thật sự diễn ra trong chính thân tâm của mỗi người mặc dù qua các Thánh Giáo Thánh  Ngôn, Ơn Trên đã chỉ dạy rất cụ thể, tận tường phương thức giải khổ để tìm thấy được nguồn an lạc nơi thân tâm. Chính vì vậy, qua bài viết này chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem nguyên nhân do đâu mà trong mỗi chúng ta vẫn chưa thể tìm thấy được nguồn an lạc thật sự nơi thân tâm của chính mình như vậy?
        B.  NỘI DUNG
      1. CHƯA THẬT SỰ CẢM NHẬN ĐƯỢC CUỘC ĐỜI  LÀ GIẢ TẠM, VÔ THƯỜNG, MỘNG ẢO. CHƯA THẤU HIỂU ĐƯỢC LUẬT NHÂN QUẢ CHÍ CÔNG VÔ TƯ CỦA TẠO HÓA
Tuy Ơn Trên đã có rất nhiều lời dạy cho biết cuộc đời là giả tạm, vô thường, mộng ảo qua các Thánh Ngôn, Thánh Giáo Cao Đài nhưng tại sao phần lớn trong số huynh tỷ đệ muội chúng ta vẫn còn nhiều khổ đau, hơn thua, bất hòa, hữu vi sắc tướng, chấp ngã, vọng cầu… Có lẽ do ngay tại chính nội tâm của mỗi người vẫn chưa thể “cảm” và “đắc” được đúng bản chất thật sự của “đời là giả tạm, vô thường, mộng ảo”, cứ ngỡ trần gian là cõi thật nên mới còn cảnh khổ đau, hơn thua, bất hòa, giận hờn, khoe khoang, tự cao tự đại, chấp ngã, phô trương sắc tướng bề ngoài, tranh dành quyền lực, tham lam tiền tài danh vọng…
Chúng ta hãy cùng nhau chiêm nghiệm qua một số sự kiện sau đây để giúp cho mỗi người dần dần “cảm” và “đắc” được bản chất thật sự của sự “giả tạm, vô thường, mộng ảo của cuộc đời”, từ đó sẽ giúp chúng ta bớt khổ đau, bất hòa, hơn thua, giận hờn, khoe khoang, tự cao tự đại, chấp ngã, phô trương sắc tướng bề ngoài, tranh dành quyền lực, tham lam tiền tài danh vọng…
ĐỜI LÀ GIẢ TẠM:
–  Danh vọng, địa vị rồi đây sẽ phai dần theo năm tháng. Chúng ta thử nêu ra một thí dụ thực tế để cùng chiêm nghiệm về vấn đề này như sau: có một người nọ khi còn sanh tiền rất nỗi tiếng về tài năng là học cao hiểu rộng, thông thạo nhiều điều. Người ấy  luôn thể hiện cái tài trí của mình cho mọi người biết đến với mong ước nhận được lời khen ngợi từ mọi người là lấy làm hãnh diện, đắc ý thỏa mãn được bản ngã tư tâm của mình. Nhưng vì nghiệp quả phải trả nên người ấy đã phải lìa trần quá sớm. Rất có thể lúc ban đầu chúng ta sẽ thấy có rất nhiều người tiếc thương, tham dự lễ điếu tang thật là đông đúc. Nào là điếu văn vô cùng cảm động, nào là nhiều lẵng hoa chia buồn thật hoành tráng làm cho cả gia đình, dòng tộc của người ấy cảm thấy rất tự hào và hãnh diện…Nhưng khoảng một thời gian ngắn ngủi một vài năm sau thì hình ảnh người ấy sẽ dần dần bị lãng quên trong tâm trí của hầu hết mọi người. Bởi lẽ theo thời gian, khi trở về với đời sống thường nhật thì ai ai cũng phải lo xoay vần với cơm, áo, gạo, tiền và chịu bao áp lực khác do cuộc sống mang lại nên không còn tâm trí và thời giờ để có thể lúc nào cũng tưởng nhớ, tiếc thương đến người ấy nữa. Thậm chí khi đến ngày đám giỗ hàng năm, nếu không được mời hoặc nhắc nhớ thì ngay cả những người bạn thân nhất cũng có thể không còn nhớ đến để về thắp nén hương tưởng niệm. Và, một khi đã cảm nhận được điều này thì mỗi người chúng ta hãy đừng quá quan trọng hóa bản thân mình, đừng nghĩ rằng hễ làm việc gì thì cũng phải có bàn tay, khối óc của mình tham gia vào thì mới thành công, mới không bị thất bại mà hãy xem mình là một hạt cát thật nhỏ bé so với sa mạc mênh mông. Không có mình thì cũng không làm ảnh hưởng gì được đến “hòa bình” thế giới cả. Nếu giả sử như hôm nay mình bất ngờ đột nhiên biến mất trên cõi thế gian này thì mọi thứ vẫn cứ tiếp diễn, cuộc sống vẫn cứ tiếp tục chạy theo “dòng chảy” vốn có của nó chứ không phải vì không có mình mà mọi thứ đều phải ngưng trệ theo. Ngay cả một vị tổng thống của một nước lớn (có tầm ảnh hưởng đặc biệt đối với nhiều quốc gia khác trên thế giới) bất ngờ đột tử thì cũng không có nghĩa là đất nước đó và các quốc gia phụ thuộc khác sẽ bị sụp đổ theo vị tổng thống đó mà sẽ luôn có một vị khác đứng ra thay thế để tiếp tục sự nghiệp lãnh đạo đất nước.
–  Khi chết không mang theo được bất cứ một món tài sản vật chất hữu hình nào. Nào là địa vị, danh vọng, vợ đẹp, con khôn, nhà cao, cửa rộng, ruộng đất cò bay thẳng cánh… tất cả những gì của đất rốt rồi cũng phải trả về cho đất!Ngay cả tấm thân tứ đại mà mình đang sở hữu cuối cùng rồi cũng phải trả về cho tứ đại mà thôi.
Chính vì điều này mà Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đã có dạy:
“Nhưng xét lại mà đau lòng vậy,
Kiếp phù sanh có mấy mươi năm;
Sanh, lão, bệnh, tử khôn tầm,
Mà cứ lẽo đẽo quanh năm đón rình.
Khi bỏ xác, hồn linh rời thế,
Muôn việc đều phải để lại trần;
Đối cùng chỉ có bản thân,
Mà không giữ đặng ở trần bền lâu.
Kế nữa là ruộng trâu giàu có,
Đất cò bay thẳng ngõ đó đây;
Bạc vàng châu báu riêng tây,
Cửa nhà con vợ gia tài muôn kho.
Đành phải chịu nằm co bỏ cả,
Mặc cho đời ruồng sả tính toan;
Chỉ còn một nắm xương tàn,
Le the ngọn cỏ mồ hoang lấp vùi.” (1)
Thật vậy, chúng ta cùng chiêm nghiệm câu chuyện sau đây để thấy được khi chết chúng ta không thể mang theo được bất cứ điều gì từ chức phẩm cho đến tiền tài, danh vọng…: Bà Dianne Perry, sinh trưởng tại Anh quốc (người mà sau này trở thành Nữ tu Phật giáo nổi tiếng thế giới, người đã trải qua 12 năm tu khổ hạnh nơi rặng tuyết sơn của Hymalaya), lúc mới 12 tuổi đã có lần bà nhìn thấy một người vô gia cư chết bên gầm cầu. Cảnh sát lục lọi cái xách rách nát của người chết ấy chỉ thấy một cái bát một cái muỗng và vài đồng xu. Hôm đó trở về nhà, tuy nhỏ tuổi mà cô bé Diane Perry đã hỏi mẹ một câu đầy vẻ triết lý: “Mẹ ơi! Tại sao người ta chết đi không đem theo được gì cả? Hôm qua con thấy một người chết bên gầm cầu, người ấy rất nghèo, chỉ có cái bát, cái muỗng và mấy đồng xu. Chỉ chừng ấy thôi mà khi chết người ấy vẫn để lại không mang theo sao?”
Bà mẹ của Diane ngạc nhiên vì câu hỏi lạ lùng ấy và đã trả lời con: “Không con à! Khi chết không ai đem theo được bất cứ cái gì. Dù Vua chúa, người giàu sang hay kẻ nghèo hèn, một khi đã chết thì không đem theo của cải vật chất nào cả.”
Qua câu chuyện trên ta thấy rõ ràng trong thực tế có vô số người giàu sang sống trên của cải nhung lụa nhưng khi họ chết đi, hai tay buông xuôi thì họ trở thành tay trắng vì không mang theo được dù một chút của cải vật chất nào. (Cái gì của đất rốt rồi cũng phải trả về cho đất). Sự kiện thực tế ấy từ lúc con người xuất hiện trên quả đất cho đến nay đều thấy rõ không ai có thể chối cải được.
Ấy vậy mà từ xưa tới nay đã có biết bao người quyết chí làm giàu, lúc nào cũng mong tiền bạc đến với mình không dứt.  Họ chỉ có biết sống vì tiền, vui thú vì lo gom góp tiền bạc vào cho đầy túi tham không đáy của mình mà bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được tham vọng của mình để rồi vô tình gieo tạo biết bao nghiệp quả mà không biết đến khi nào mới trả xong. Đến khi nhắm mắt xuôi tay thì tất cả tiền bạc của cải ấy đều phải để lại thế gian còn họ thì nằm co ro dưới lòng đất lạnh. Nếu có ai đó còn tiếc của, tiếc nuối sự nghiệp vẻ vang một thời của mình mà trước khi chết đã dặn dò người thân đem tất cả tài sản ngọc ngà châu báu, áo mão cân đai chôn theo bên mình nhưng khi chúng ta xét kỹ lại thì bản chất thật sự những món tài sản đó vẫn đang nằm im trong lòng đất lạnh chứ có ai mang đi được món gì đâu!
Và vì chưa thấy được cái giả tạm của cuộc đời nên khi xem các bộ phim kiếm hiệp nhiều lúc chúng ta thật sự không khỏi xót xa khi thấy ai cũng xem đời là cõi thật, ai cũng muốn xưng hùng xưng bá một phương với danh vọng ảo huyền, oan oan tương báo cứ mãi đeo đai không bao giờ ngưng dứt; Trong các triều đại vua chúa ngày xưa, vì tranh dành quyền lực và để nhận được sự sủng ái từ nhà vua mà các cung tần mỹ nữ đã không chừa bất kỳ một thủ đoạn nào để rồi phải gây tạo biết bao tội lỗi mà không biết đến kiếp nào mới có thể  trả xong; Trong thời đại ngày nay, chỉ vì miếng đỉnh chung, mồi danh lợi mà con người lại tán tận lương tâm, tàn độc sát hại lẫn nhau, đổi trắng thay đen mà không còn biết đâu là nhân nghĩa, phải trái!
Chính vì lẽ đó mà trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, phần  thi văn dạy Đạo, Thầy cũng đã từng để lời khuyên dạy:
“Giựt giành rốt cuộc cũng tay không,
Nhân quả đeo mang tội chất đồng;
Ví biết phép công cơ thưởng phạt,
Ðường tu sớm bước chí thong dong.”
“Tham chi sự thế lắm đua tranh,
Cái miếng đỉnh chung xúm giựt giành;
Bỏ hết trong cơn mê một giấc,
Trăm năm ngắn ngủi nhớ làm lành.”
“Cần lo học Ðạo chí đừng lơi,
Phú quí sương tan lố bóng Trời;
Lợi lộc xôn xao rồi một kiếp,
Nghĩa nhơn tích trữ để muôn đời.”
THẤU HIỂU ĐƯỢC LUẬT NHÂN QUẢ RẤT CÔNG BẰNG CỦA TẠO HÓA VÀ LẼ VÔ THƯỜNG CỦA CUỘC SỐNG:
Chúng ta biết rằng, mọi vật chất nơi cõi nhị nguyên này luôn biến đổi theo quy luật thành trụ hoại không, không có gì trường tồn mãi mãi. Hễ hữu hình là hữu hoại! Con người sống trên cõi thế gian này luôn phải chứng kiến biết bao lẽ vô thường của cuộc sống như hoa nở rồi tàn, trăng tròn lại khuyết, hết đục rồi trong, hết vơi lại đầy, hết tụ rồi tan, dinh hư tiêu trưởng, âm cực dương sanh, bỉ cực thái lai, sống nay chết mai… Ngày hôm trước mới thấy một ai đó đang cười nói vui vẻ nhưng qua ngày hôm sau bổng nhiên bất ngờ bị đột tử. Và còn rất nhiều rủi ro khác như  bệnh tật nan y, tai nạn… luôn rình rập không chừa bất kỳ một ai và với bất kỳ lúc nào. Ví như có một người thanh niên nọ đang có một cuộc sống vô cùng hạnh phúc trong một gia đình với vợ đẹp, con ngoan, nhà cao, cửa rộng, địa vị cao sang… nhưng vào một ngày bất hạnh nào đó cả vợ và con anh ta bị tai nạn giao thông khiến cả hai phải vĩnh viễn không còn gặp lại anh nữa và bao nhiêu tài sản anh đã cố công gầy dựng bấy lâu bổng nhiên bị rủi ro mất hết. Nếu không tin luật nhân quả, không thấu hiểu được lẽ vô thường của cuộc sống ắt hẳn chúng ta sẽ dễ dàng hình dung được tâm trạng của người thanh niên ấy sẽ bị khủng hoảng nghiêm trọng và đau khổ đến dường nào! Nếu như không kiểm soát được thân tâm thì rất có thể người thanh niên đó sẽ bị kích động tinh thần rất nặng nề dẫn đến bị bệnh tâm thần, thậm chí phát khởi suy nghĩ hoặc có hành vi tự tử. Chúng ta biết rằng tất cả những việc xảy ra không như ý đều phát sinh từ nhân quả. Có thể trong kiếp này, người thanh niên ấy chưa làm một việc gì ác, nhưng ai dám chắc rằng đời trước, rồi đời trước nữa, anh ấy đã không làm điều gì trái đạo lý?
Do vậy, nếu chúng ta thấu hiểu được luật nhân quả thì mỗi khi gặp chuyện đau buồn dù có phủ phàng đến đâu đi chăng nữa xảy đến, chúng ta hãy nghĩ rằng đó là cái quả mà mình phải nhận lãnh do nhân xấu gieo trồng từ nhiều kiếp trước. Một khi đã nghĩ  được như vậy chúng ta sẽ vui vẻ đón nhận và bớt khổ đau, than vãn hay oán trách bất cứ điều gì.
Đức Di Lạc Thiên Tôn có dạy về luật nhân quả như sau:
“Sự họa phúc may rủi tốt xấu đến với mọi người là do căn nguyên tội phúc của mỗi người mà thị hiện. Do đó lời Thiêng Liêng thường dạy mỗi người ráng lo tu, cải ác tùng thiện. Thiện nhiều được phước, gặp sự an lành, còn ngược lại cải thiện tùng ác, ác sanh gây điều tội lỗi thất đức thì tai họa rủi ro sẽ đến với mình không sớm thì chầy.
Luật nhân quả không sai một mảy,
Gieo giống nào giống ấy sẽ lên.” (2)
Khi nói về lẽ vô thường của cuộc sống, Thầy có dạy: “Sắc tức thị Không.  Ở thế gian hữu hình vật chất này, không bao lâu nó tan ra gió bụi. Các con có hình trạng, mắt thấy, tai nghe là giả, mộng ảo.  Các vật sống trên thế giới không bao giờ bền bỉ, có đó rồi nó lại hóa ra không.  Sự có, không ấy nó dễ dàng mau lẹ như bọt nước trôi sông, như sương đeo ngọn cỏ.” (3)
Đức Đông Phương Chưởng Quản cũng có dạy:
“Khi học hiểu hết một đôi phần về đạo lý, từ vũ trụ quan đến nhân sinh quan, được một vài yến sáng rọi trong tâm hồn, thấy được cõi đời đây là giả tạm. Một kiếp làm người tuy nói rằng ước định là trăm năm, nhưng trong chuỗi đời ba vạn sáu ngàn ngày là mấy ai tròn hưởng. Tấm thân tứ đại quanh năm ngày tháng mãi quay cuồng trong chỗ lo nghĩ buồn vui cùng sướng khổ. Nhưng hỏi lại có mấy ai được trong cảnh buồn ít vui nhiều, quẩn quẩn quanh quanh trong chỗ đủ thiếu phải chăng giàu nghèo. Bảy tám mươi cũng gọi một đời mà năm ba tuổi cũng cho là một kiếp, lẽ vô thường nào đâu có hẹn với con người sự dài vắn rủi may.” (4)
Đức Mẹ cũng đã diễn tả tính chất vô thường của kiếp người thật là thê lương ảm đạm:
“Đời con có những gì đâu tá?
Mãi quẩn quanh trong bả lợi danh;
Thị phi, đắc thất bại thành,
Hơn thua, vinh nhục, dữ lành buồn vui.
Kẻ mộc mạc tới lui bất cập,
Người khôn ngoan sẽ vấp sảy chơn;
Rốt cùng nào có gì hơn,
Sống ăn mặc ở cũng trần thế gian.
Khi đắc thế huênh hoang hống hách;
Lúc thất thời nhân cách thảm thương;
Chợt nhìn mái tóc điểm sương,
Rồi mồ cỏ lạnh nắm xương rũ tàn.”
 
(5)
Và Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có dạy sự giả tạm vô thường của cuộc đời như sau:
“Một kiếp sống ở yên trần thế,
Hỏi mấy ai bách tuế thiên niên?
Sống trong cõi tạm triền miên,
Tạm ăn, tạm ở, tạm duyên nợ đời.
Tạm thân xác ba hơi còn thở,
Tạm cha con chồng vợ chị anh;
Tạm trong cái bại, cái thành,
Cái quyền, cái chức, cái danh, bạc tiền.
Tạm kêu gọi rằng tên I, X,
Có ai tường tên thiệt mình chăng?
Sống trong vũ trụ trần hoàn,
Kiếp người hột cát so hàng cồn to.
Mãi lặn hụp trong lò luân chuyển,
Một kiếp người tai biến biết bao;
Hỏi coi những hạng sang giàu,
Xe hơi, tàu lớn, nhà lầu, của kho.
Hỏi ai được khỏi lo, khỏi sợ?
Hỏi ai không mang nợ trần gian?
Hỏi ai có được thập toàn?
Hay là cũng cảnh rộn ràng bối bê?
Cảnh ghen tức phu thê nem chả,
Cảnh bạc bài gây họa gia cang;
Cảnh bán chức, cảnh mua quan,
Cảnh đương nghèo túng giàu sang tức thì.
Người tu niệm xét suy cho kỹ,
Một kiếp người bền bỉ bao năm?
Quả công tua sớm nên làm,
Đó là vốn liếng muôn năm cõi Trời.” (6)
 ĐỜI LÀ ẢO MỘNG PHÙ DU:
Chúng ta hãy cùng nhau ôn lại tích Giấc mộng Huỳnh lương (giấc mộng kê vàng, giấc mộng nam kha) để thấy rõ được cuộc đời là mộng ảo phù du. Giấc mộng kê vàng là giấc mộng trong đó có thăng trầm, thay đổi của một đời người xảy ra trong thời gian nấu chưa chín một nồi  kê: Đời Đường có thư sinh họ Lữ thi hỏng. Trên đường về, mệt nhọc và buồn bã chàng ghé vào một quán cơm bên đường. Một đạo sĩ trong quán nhường cái gối của mình cho Lữ Sinh gối đầu nằm nghỉ trong khi chủ quán bắt đầu nấu một nồi kê cho khách. Vì mệt mỏi nên họ Lữ nằm một lúc thì chìm vào giấc ngủ thật sâu. Chàng mơ thấy mình đã thi đỗ, được quan chức cao, lại được nhà vua  gả công chúa, phong cho chàng làm phò mã và cho đi trấn nhậm một nơi. Thật là vinh quang phú quý, không ai bằng. Nhưng khi đi đến nửa đường thì bỗng gặp quân giặc kéo đến đánh. Lữ chống cự không lại. Lính hộ vệ bị giết. Xe kiệu bị đập phá tan tành. Chúng thộp cổ cả vợ chồng Lữ, đưa gươm kề họng. Lữ hoảng hốt, kêu lên một tiếng, giật mình thức dậy mới biết là chiêm bao, thấy nồi kê của ông chủ quán vẫn chưa chín. Thời gian trong giấc mộng là hai mươi mấy năm. Thời gian thật của sự sống là chưa chín một nồi kê! Lữ Sinh bàng hoàng tự hỏi: “Việc đó là chuyện mộng ư?” Đạo sĩ cười: “Việc đời thì cũng như mộng vậy thôi!”.
Ngài Nguyễn Công Trứ cũng đã nhắc lại tích trên qua bài Vịnh Nhân Sinh Quan như sau:
“ … Ôi nhân sinh là thế ấy,
Như bóng đèn, như mây nổi,
Như gió thổi,
Như chiêm bao.
Ba mươi năm hưởng thụ biết chừng nào?
Vừa tỉnh giấc nồi kê chưa chín . . .”
Đức Mẹ cũng đã có lần nhắc lại tích giấc mộng kê vàng như sau:
“Tạm trong cõi phù du tiến hóa,
Mượn áo đời mà trả trái oan;
Có chi bền vững mà màng,
Con lo vẹn phận lên đường về quê.
Giấc mộng đời nồi kê chưa chín,
Hỏi tuổi đời con tính bao nhiêu;
Lo mơi rồi lại lo chiều,
Sống ăn, mặc ở trăm điều khổ tâm.
Đó phương tiện con làm sự sống,
Thì thôi đừng tham vọng con ơi!
No cơm ấm áo đủ rồi,
Công phu, công quả trau dồi hồn linh.” (7)
Và  Đức Lý Đại Tiên cũng có dạy:
“Trên gối điệp chiêm bao mơ tỉnh,
Gắng thành tâm vui thính lời Ta;
Thế gian đâu phải là nhà,
Không tu một kiếp khổ mà ngàn thu.
………………………………
Mê giấc hòe lấp chôn thân thể,
Nợ mình gây chứa để dập dồn;
Làm cho xiêu lạc linh hồn,
Mất phần chơn tánh bảo tồn chi đâu.
Biển ái hà, càng sâu, càng thẳm,
Bớ đời ôi!!! Chớ ngắm mà lầm;
Chôn người mất trí mất tâm,
Mất luôn tam bửu khó tầm linh căn.” (8)
 2. TẬP RÈN ĐỂ DẦN DẦN ĐẠT ĐƯỢC “THỊ CHI BẤT KIẾN, THÍNH CHI BẤT VĂN”:
Thấy cũng như không thấy, nghe cũng như không nghe! Làm thế nào mà để giữ cho tâm mình có thể không phát sinh bất cứ một “vọng tưởng” nào đối với những điều xảy ra ngay trước mắt và những điều nghe thấy bên tai! Làm sao để đạt được “Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến”?, “Cư trần mà bất nhiễm trần” được đây?
Thật là vô cùng khó khăn mới có thể làm được điều đó! Tuy khó nhưng không có nghĩa là chúng ta sẽ không làm được. Một khi đã nhận thức được cõi đời là vô thường giả tạm, ngoại cảnh đang diễn ra trước mắt và xung quanh chúng ta chỉ là ảo ảnh phù du, tất cả chỉ là pháp giới, là phương tiện, là môi trường thử thách để giúp chúng ta tôi luyện trong hành trình tiến hóa trở về hòa cùng với khối Đại Linh Quang. Một khi đã nhận thức được như vậy sẽ dần dần giúp chúng ta tập rèn được “thị chi bất kiến, thính chi bất văn”. Và đến khi đã thực hiện được “thị chi bất kiến, thính chi bất văn” thì tâm chúng ta lúc nào cũng đạt được trạng thái an nhiên tự tại thật sự: khi được cũng không quá vui mừng mà khi mất thì cũng không có gì làm mình phải quá đau buồn, tiếc nuối.
3. HỌC HẠNH KHIÊM CUNG, GIẢM DẦN BẢN NGÃ TƯ TÂM, PHÁ CHẦP:
Có thực hiện được hạnh khiêm cung chúng ta mới tôn trọng tất cả mọi người, giảm dần được bản ngã tư tâm. Có giảm được bản ngã tư tâm thì chúng ta mới dễ dàng tha thứ, phá chấp, giảm bớt sự hơn thua, sân hận, tự ái và không còn tự cao tự đại khoe mình rồi lại chê bai người. Dầu cho có tài trí hơn người thì chúng ta cũng không nên lòe loẹt, khoe khoang danh của mình cho mọi người biết để thỏa mãn cái ta ngã mạn của mình. Khi làm được điều đó sẽ giúp chúng ta dễ dàng tìm thấy nguồn an lạc nơi thân tâm.
Trong Đại Thừa Chơn Giáo, Thầy có dạy:
“Người hiền đức không cần danh vọng,
Làm thì ưa công cọng hiệp hòa;
Kính người quên phức đến ta,
Tự nhiên thanh tịnh giọng tà bất sanh.
………………………………………………
Nên hạ mình chìu lòn chúng bạn,
Ðức hạnh tròn chói sáng mọi nơi;
Khuyên con con biết nghe lời,
Dạy con con biết tùy thời chấp trung.
………………………………………………
Người hiền chẳng khoe khoang tự đắc,
Lo cho người tai mắt ích chung;
Gìn tâm chẳng để buông lung,
Cúi lòn nhẫn nhịn dây dùng dứt coi.
………………………………………………
Không chịu lãnh những phần khen ngợi,
Không chịu làm tư lợi tổn nhơn;
Không oán để tiếng khinh lờn,
Ham làm Ðạo đức nghĩa nhơn gọi là.” (9)
Phân tích đến đây, chắc hẳn rằng trong mỗi chúng ta đều đã phần nào nhận thấy được cuộc đời là giả tạm, vô thường, ảo mộng nhưng vì sao trên thực tế trong cửa đạo vẫn còn đâu đó những hình ảnh, những sự kiện, những tấm gương sống đạo lại chưa thật sự thấm nhuần được điều này, cứ ngỡ trần gian là cõi thật để rồi có những suy nghĩ, lời nói và hành vi trái đạo lý làm cản trở sự tiến hóa chung cho nhơn sanh cũng như cho cơ đạo, vô tình gây tạo biết bao nghiệp quả mà mình không hề hay biết. Chúng ta hãy cùng điểm lại một vài sự kiện để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm tu tiến cho chính bản thân mỗi người:
– Thí dụ, có một người đạo hữu nọ đang mong cầu được lên một phẩm vị cao nào đó để được nhiều người biết đến, được kẻ thưa người trình… Tuy nhiên khi ra tranh cử, người đạo hữu ấy lại không đủ phiếu tín nhiệm của nhơn sanh. Vì chưa cảm nhận được cái giả tạm, vô thường, mộng ảo của cuộc đời nên bản ngã tư tâm của vị ấy đã trỗi dậy lòng tự ái cá nhân thật mạnh mẽ, tỏ thái độ bất hợp tác thậm chí có những hành động, lời nói mang tính khiêu khích, chống đối, phá hoại hơn là mang tinh thần xây dựng, phát triển. Người xưa thường nói: “Hai hổ không thể sống chung một rừng”, hễ có X thì không thể có Y và ngược lại. Trên thực tế cũng đã từng xảy ra trường hợp khi một vị đạo hữu X thắng cử một phẩm vị nào đó thì vô hình trung đưa vị đạo hữu Y vào thế bất hòa, lòng tự ái bổng chốc trổi dậy thật mạnh mẽ, không thể nhẫn nhịn để cùng nhau cộng tác gánh vát đạo sự chung để rồi cuối cùng phải tự  tách rời khỏi tập thể về nhà tu ẩn. Chi bằng vị đạo hữu Y nên có nhận thức thoáng hơn, sở dĩ mình không được nhơn sanh tín nhiệm có lẽ do tài đức của mình còn chưa đủ bằng vị đạo hữu kia, mình nên vui vẻ và cố gắng ngày càng hoàn thiện bản thân mình hơn để nhận được sự tin tưởng của nhơn sanh trong tương lai. Hơn nữa, một khi đã thấu hiểu được cuộc đời là giả tạm, vô thường, mộng ảo thì tất cả từ các phẩm vị, nhiệm vụ, vị trí… của từng người cho đến cơ sở vật chất như Thánh thất, Thánh tịnh, Hội Thánh… cũng chỉ là hình thức, là phương tiện, là pháp giới, là môi trường tôi luyện nhằm giúp cho mỗi người có cơ hội cùng nhau tu học lập công trên công cuộc tiến hóa chung mà Thượng Đế đã an bài, sắp đặt ra tại nơi cõi thế gian này mà thôi (Đạo khởi đầu từ chỗ hữu hình rồi sẽ dần đi đến chỗ vô vi).
Mặc khác, người đạo hữu Y hãy xem như mình đang tham gia diễn những vai tuồng trong suốt kiếp làm người của mình. Nếu như tại thời điểm hiện tại mình không may mắn được “vị đạo diễn nhơn sanh” giao cho đóng “kép chính” thì  cũng nên chấp nhận thực tại, vui vẻ, hòa ái, yêu thương lẫn nhau mà làm tròn bổn phận và trách nhiệm với vai trò “kép phụ” nào đó được nhơn sanh giao phó, đừng vì cái ta chấp ngã quá to lớn của mình mà chối từ những đạo sự mà mình chủ quan cho là quá nhỏ bé, nhận thấy chức phẩm quá thấp không được ai biết đến nên mình không chịu nhận lãnh.
Chính vì thấu hiểu được điều này mà Đức Mẹ cũng đã từng để lời khuyên dạy:“Hỡi các con! Có phải các con đặt mình vào cửa Đạo, mong lập công bồi đức một kiếp nầy, chỉ một kiếp nầy thôi để trở về hiệp nhứt cùng Thầy Mẹ chăng? Mẹ trả lời thế các con rằng “Phải”, rằng “Đúng”. Nhưng các con tự vấn cõi lòng, coi có thực hành công đức để xứng với nguyện vọng ấy chưa, hay chỉ mới sử dụng những ngày giờ nhàn rỗi thừa thãi, cùng hơi ráng một ít, vì một động lực thúc đẩy, vì một tự ái hoặc vì một danh hão, để chen mình làm những việc đạo nghĩa nhứt thời nào đó. Các con ôi! Một kiếp người chỉ lối năm bảy mươi năm. Khoảng thời gian nầy, những con người đó cố gắng giải trừ nghiệp cũ. Đó là hạng giác ngộ, không gây nghiệp mới, nhưng vô tình hay hữu ý, nghiệp cũ đã chưa mòn, nghiệp mới lại gây thêm! Các con có muốn chỉ giữ bực tầm thường là hiền nhân một kiếp nầy, để kiếp lai sanh hưởng muôn điều vinh hoa phú quý? Thảng qua, thì có con thích làm như vậy, nhưng biết kiếp lai sanh còn nhớ căn cội của mình mà tiếp tục sự nghiệp đạo đức ấy chăng? Vậy thì đừng mong vọng điều đó, mà chỉ tận dụng mọi khả năng, mọi hoàn cảnh, dốc thực hành cho kỳ được một kiếp nầy mà thôi. Các con hãy xem, rất đỗi các Đấng Phật Tiên, Thánh Thần còn phải xuống trần bất luận ngày đêm, để lập thêm công bồi thêm đức, huống hồ chi các con chỉ được công đức là bao. Vì vậy mà các con chớ nên tự mãn, hãy cố gắng thêm lên. Hãy thắng mọi sở thích của thể xác mới hành được nghĩa vụ trọng đại ấy. Các con hãy tập làm những việc tầm thường để trở nên phi thường.” (10)
Thật vậy, những công việc tuy rất nhỏ bé, vô danh, âm thầm lặng lẽ, ít người quan tâm đến, thậm chí nhiều người tỏ vẻ xem thường như tổ trưởng tổ thiện gia, các nhiệm vụ trong Ban trị sự tại một xã đạo, trù phòng, giao liên… Với những nhiệm vụ này, nếu chúng ta làm việc với một lòng chí thành, luôn vì lợi ích tu tiến của nhơn sanh mà phục vụ thì cũng có giá trị không thua kém gì những nhiệm vụ mình tưởng rằng là to lớn khác tại Hội Thánh, Thánh thất, Thánh tịnh… Điều này cũng giống như trường hợp có một người quá nghèo khó, tuy chỉ có thể công quả được một món tiền thật nhỏ bé nhưng với một tấm lòng chí thành hồi hướng cũng có thể có giá trị hơn gấp nhiều lần so với một người giàu có mặc dầu công quả với số tiền lớn gấp vạn lần so với số tiền mà người nghèo khó kia đã công quả, nhưng lại không công quả với một lòng chí thành mà chỉ vọng cầu điều lợi lộc cho riêng mình mà thôi.
– Thỉnh thoảng, chúng ta vẫn còn bắt gặp hình ảnh không mấy tốt đẹp là các huynh đệ đồng đạo tại cùng một đơn vị vì có sự hiềm khích, không ưa thích nhau dẫn đến nói xấu sau lưng lẫn nhau. Chúng ta biết rằng thành ngữ có câu “tam sao thất bổn” nên mỗi khi chúng ta nói xấu người nào thì một sẽ đồn ra hai, hai sẽ đồn ra ba… và không biết sẽ dừng lại ở mức độ nào. Suy cho cùng thì người bị nói xấu sẽ bị tổn hại uy tín và danh dự một cách rất nghiêm trọng, thậm chí có khi đưa người ấy vào bước đường cùng, không còn lối thoát; Hoặc thỉnh thoảng chúng ta cũng thường nghe mọi người nói xấu người khác sau lưng họ, tuy nhiên chúng ta không những không can ngăn, bênh vực cho người bị nói xấu đó mà còn hùa theo, thậm chí “châm thêm dầu vào lửa” nữa hoặc tuy im lặng nhưng  trong lòng lại rất hân hoan tỏ vẻ đắc ý “thỏa mãn” mỗi khi được nghe người khác nói xấu về những người mà mình không ưa thích.
– Đôi khi chúng ta vẫn còn bắt gặp tại một vài đơn vị nào đó mỗi khi tham dự những cuộc thi, tổ sự kiện nào đó… thì thường phô trương hình thức bề ngoài cho thật hoành tráng, trang trí thật lộng lẫy tốn kém với mong muốn là để nhận được tiếng khen ngợi từ các đơn vị khác là đơn vị mình mạnh nhất, cái gì cũng nhất, cái gì cũng dẫn đầu, cái gì cũng thật hoành tráng… Mỗi khi được khen như vậy lại tỏ ra đắc ý, tự cao, cho mình là đơn vị mạnh nhất dẫn đến xem thường các đơn vị bạn mà không lo chú trọng đến việc phát triển nội lực bên trong hơn là phô trương vẻ hình thức bề ngoài.
Vo thuong
4. KHÔNG PHÊ PHÁN CHỈ TRÍCH, HỌC HẠNH YÊU THƯƠNG VÀ LUÔN CHÂN THÀNH CẦU NGUYỆN, HỒI HƯỚNG, PHỤNG SỰ CHO THA NHÂN:
KHÔNG PHÊ PHÁN CHỈ TRÍCH, HỌC HẠNH YÊU THƯƠNG THA NHÂN:
Chúng ta thường nghe nói: “Tứ hải giai huynh đệ” hay “Anh em bốn biển một nhà”. Các câu nói trên khi nói ra thì rất dễ nhưng để áp dụng được vào trong cuộc sống hàng ngày thì vô cùng khó khăn, không dễ gì một sớm một chiều chúng ta thực hiện được. Bởi lẽ ngay cả anh chị em ruột trong cùng một gia đình được sinh ra từ cùng một cha và một mẹ nhưng tính cách mỗi người một khác, không ai giống ai hoàn toàn cả. Một khi tính cách đã không giống nhau ắt hẳn sẽ xảy ra những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, bất hòa thậm chí hận thù không muốn nhìn mặt nhau nữa là khác. Huống gì giữa những người dưng nước lã với nhau thì làm sao cho khỏi những khác biệt, dị đồng? Làm sao để yêu thương nhau và xem nhau như anh em một nhà được đây?
Vì biết điều này rất khó thực hiện được nên Thầy cũng đã có lần khuyên nhủ các môn đệ Cao Đài hãy yêu thương được kẻ ghét mình thì mới mong  được gần Thầy:
“Thầy muốn thực hiện cho rõ lý đạo, Thầy phải nhờ nơi các con thay Thầy làm người đi trước để rước kẻ đến sau, và các con nên nhớ rằng: Nếu các con không thương được kẻ ghét mình thì khó mong gần gũi với Thầy, hay con còn hiểu Đạo bằng một lối hiểu thường tình, ắt cũng phải trầm luân đọa lạc.” (11)
Và Đức Mẹ cũng để lời khuyên dạy:
“Con hãy thương yêu kẻ ghét mình,
Thương đời mạt kiếp khó tồn sinh;
Thương thân cá chậu vòng oan nghiệt,
Thương phận chim lồng chốn nhục vinh.
Thương kẻ tội tình chưa thức tỉnh,
Thương người mê muội mãi u minh;
Có thương con mới dày công quả,
Công quả là đường đến Ngọc Kinh.” (12)
Thương yêu người thương mình thì rất dễ làm nhưng làm sao để có thể thương yêu kẻ ghét mình được đây? Ôi thật là vô cùng khó khăn nan giải! Nhìn bản mặt người này thấy khó ưa làm sao! Thấy tướng mạo người kia hình như có nét gì đó gian gian, không thật lòng ấy! Nhìn người này sao thấy ba hoa khoát lác quá chừng! Nhìn người kia sao nói năng thô lỗ, cộc cằn, không biết cẩn ngôn cẩn hạnh gì cả! Nhìn người nọ sao thấy tâm địa độc ác, ích kỷ, hơn thua, tham lam, thủ đoạn quá!… Chỉ mới nhìn thôi mà đã thấy ghét, thấy khó ưa rồi thì làm sao có thể có thiện cảm và yêu thương được bây giờ chứ?
Để  có thể yêu thương được kẻ ghét mình, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu nguồn gốc hình thành và sự tiến hóa của chúng sanh, từ đó mới giúp chúng tathay đổi được tư duy, nhìn nhận được tất cả đều là anh em, đều là con chung của một đấng Cha Lành Thượng Đế Chí  Tôn. Chúng ta biết rằng thế gian này có thiên hình vạn trạng, ngàn giống muôn tên, chi này phái nọ, tôn giáo nọ tôn giáo kia, hình thức này hay hình thức nọ, tư tưởng triết học của phương đông hay phương tây, chủ nghĩa duy vật biện chứng hay chủ nghĩa duy tâm… tất cả  đều là “hóa thân” của Thượng Đế, tất cả đều có nguồn gốc từ âm dương hóa sanh ra mà thôi (nhứt bổn tán vạn thù, thiên địa vạn vật đồng nhất thể), tất cả cũng chỉ là pháp giới, là môi trường, là phương tiện để phục vụ cho cơ tiến hóa chung của nhơn loại mà thôi chứ chúng ta không nên chấp vào những hữu vi sắc tướng ấy mà cứ mãi lo tranh đấu cho sự hơn thua, tốt xấu, hay dở…
Nhat bon tan van thu
Nhứt bổn tán vạn thù
Mặt khác, trong xã hội chúng ta cũng đã từng nhận thấy có người nóng giận nhưng cũng có người hiền hòa, có người tốt nhưng cũng có người xấu, có người có hình tướng này nhưng cũng có người có hình tướng nọ, có người đẹp đẽ lịch lãm nhưng cũng có người tật nguyền thô lỗ, có người căn trí thượng thừa nhưng cũng có người căn trí hạ thừa, có người thông minh lanh lợi nhưng cũng có người si mê đần độn, có người là hiền nhân quân tử nhưng cũng có người độc ác tiểu nhân … tất cả đều đang học và đang trải nghiệm qua từng bài học tiến hóa mà Thượng Đế đã tạo ra tại nơi cảnh thế gian này mà thôi. Sở dĩ có sự khác biệt như vậy là do mỗi chúng sanh đều có căn trí, nghiệp duyên khác nhau, nhận thức về  đời sống tâm linh khác nhau, quá trình đầu thai tiến hóa cũng khác nhau do đó tính cách và nghiệp quả cũng khác nhau. Suy cho cùng con đường tiến hóa của mỗi chúng sanh đều phải trở về nguồn cội ban đầu là hòa cùng với khối Đại Linh Quang. Hành trình tiến hóa của mỗi chúng sanh trải qua từng bài học nhân quả, bài học tiến hóa trong mỗi kiếp mà chúng sanh đó đầu thai. Do vậy đừng vì chấp vào những hành động sai quấy, lời nói sân hận, suy nghĩ tiêu cực… của một người nào đó mà chúng ta lại tỏ vẻ phê phán, ganh ghét, chê bai, chỉ trích, nói xấu, khinh thường họ, mà trong thật tâm của mỗi chúng ta, hãy có một cái nhìn hỉ xả cảm thông và tôn trọng chân thành nhất đối với tất cả mọi người, hãy dùng tình thương yêu chân thành  nhất mà cầu nguyện, hồi hướng và giúp đỡ cho họ. Bỡi lẽ tất cả họ cũng chỉ mới bắt đầu học những bài học nhân quả và tiến hóa mà họ đang trải qua. Rất có thể trong thời điểm hiện tại chúng ta đã thấy được những điều sai quấy mà họ đang làm đó là vì chúng ta cũng đã từng trải qua những bài học nhân quả, bài học tiến hóa đó trong vô lượng kiếp trước rồi, và rất có thể lúc bấy giờ chúng ta cũng đã từng có hành xử sai quấy không khác gì những gì hôm nay chúng ta nhìn thấy họ đang hành xử. Bởi lẽ họ đang học những bài học nhân quả và những bài học tiến hóa mà chúng ta đã từng học qua trong nhiều kiếp trước. Sau nhiều kiếp đầu thai, chúng ta cũng đã từng bị luật nhân quả dồi mài, phải chịu nhiều khổ đau để rồi đến một thời điểm nào đó chúng ta đã thực sự  “thấm nhuần” được những bài học tiến hóa đó, nghĩa là trong tiềm thức nhắc nhở chúng ta không dám làm những điều sai quấy như thế nữa vì nếu làm như vậy mình sẽ bị luật nhân quả chi phối, sẽ phải chịu nhiều khổ đau để trả nghiệp quả do mình đã gây tạo. Hay nói một cách dễ hiểu hơn, trong mỗi chúng ta chắc hẳn không ai chỉ trích hay phê bình một người đang học lớp 1 nhưng tại sao lại không thể giải được bài toán lớp 5? Hãy để cho họ “lên lớp” từ từ qua những bài học tiến hóa, bài học nhân quả đó qua mỗi kiếp đầu thai của họ. Đến một thời điểm nào đó, khi họ học lên được đến lớp 5 thì những bài toán lớp 5 trước đây họ sẽ hoàn toàn có thể giải được một cách rất dễ dàng. Đến lúc đó giả sử chúng ta có yêu cầu họ làm những việc như họ đang làm hôm này thì có lẽ họ đã không bao giờ dám làm như vậy nữa vì họ sợ sẽ phải trả nghiệp quả do mình gây ra.
Mặc khác, chúng ta không nên phân biệt, phê phán hay chỉ trích mà hãy có cái nhìn hỉ xả cảm thông chân thành nhất hơn đối với những gì trước đây mình đã từng quan niệm cho đó là xấu xa, là ác độc, là đen tối, là tội lỗi… Bởi lẽ trong tất cả sự vật hiện tượng đều có 2 mặt âm dương lưỡng cực luôn đối lập và tương hỗ cho nhau, trong âm luôn vốn sẵn có dương ẩn tàng bên trong và ngược lại, hễ âm cực thì dương sanh và dương cực thì âm sanh (Hết ngày đến đêm; hết bỉ đến thái; hết nóng rồi lạnh; hết sinh rồi diệt; hết đông rồi trở lại xuân…; thậm chí ngay cả trong chính nội tâm của mỗi người giữa cái thiện và cái ác luôn tồn tại và luôn đấu tranh lẫn nhau, nếu cái thiện “thắng thế” thì cái ác tạm thời “lắng xuống” nhưng vẫn còn ẩn tàng bên trong chờ cơ hội một khi cái thiện yếu thế là cái ác trỗi dậy lấn áp ngay lập tức). Ngoài ra, nhờ có bóng tối mới thấy được giá trị của ánh sáng, nhờ có tội lỗi xấu xa mới thấy được giá trị của thiện từ tốt đẹp. Nếu như không có những người khó ưa, những người quá đáng ghét thì làm sao chúng ta học được bài học tình thương yêu thật sự đây? Nếu như không có những dị đồng khác biệt, thiên hình vạn trạng, ngàn giống muôn tên… thì làm sao chúng ta học được bài học phá chấp được đây? Do vậy chúng ta hãy thầm cám ơn chân thành từ tận đáy lòng mình đối với những ai ghét mình, cản phá, không ưa mình bởi vì chính nhờ có họ mới giúp mình học được những bài học tình thương có giá trị nhất, sửa chữa được những lỗi lầm của mình đã và đang gây ra. (Có một vấn đề chúng ta cần hiểu rõ hơn về không phê phán chỉ trích, đó là: Việc góp ý mang tinh thần xây dựng với tâm thương yêu để cùng giúp nhau phát triển và tiến bộ là việc làm hết sức cần thiết. Còn phê phán chỉ trích được nêu ra ở đây ý muốn nói lên vấn đề chấp ngã, không dựa trên tinh thần xây dựng và không dựa trên nền tảng của lòng yêu thương chân thành).
Ngoài ra, để học được hạnh yêu thương chúng ta hãy cùng chiêm nghiệm và học tập theo tấm lòng thương yêu vô cùng vô tận đối với tất cả chúng sanh của Đức Mẹ.
“Lòng Từ Mẫu vô cùng vô tận,
Đức Từ Tôn khó nhận khôn lường;
Không lãnh vực, không biên cương,
Bao trùm vũ trụ tình thương vạn loài.” (13)
Chúng ta biết rằng Đức Mẹ Vô Cực Từ Tôn chính là Mẹ linh hồn chung của tất cả vạn linh sanh chúng. Đã là Mẹ của vạn linh thì tình thương yêu của đấng sinh thành dưỡng dục dành đối với tất cả chúng sanh là vô cùng vô tận, tình thương ấy không có giới hạn mà bao trùm cả vũ trụ. Tình thương của Đức Mẹ đối với nhân loại là vô điều kiện. NGƯỜI  thương đều muôn vật, không phân biệt tốt xấu, thiện ác,… vì tất cả chúng sanh đều là con chung của Đức Mẹ (Cũng giống như Mặt Trời, Mặt Trăng luôn chiếu ánh sáng soi đều muôn vật, cho dù một người nào đó có xấu xa tội lỗi, tán tận lương tâm đến mức độ nào đi chăng nữa thì nguồn ánh sáng từ bi ấy vẫn rất chí công vô tư, chan hòa chiếu soi đến tất cả vạn vật mà không thiên vị hay ghét bỏ bất kỳ một ai hay bất kỳ điều gì cả). Điều này cũng giống như trong một gia đình ở thế gian, một người mẹ có thể sanh ra năm bảy người con, có thể có người con thông minh lanh lợi, tướng mạo đẹp đẽ, đỗ đạt thành danh, hiếu thảo nhưng cũng có thể có người con lại bị bất hạnh tật nguyền, phạm tội trộm cắp cướp giựt, ngỗ nghịch bất hiếu. Nhưng với tấm lòng thương yêu quảng đại của người mẹ thì con vẫn đồng con, tình thương dành cho tất cả các người con đều như nhau vì tất cả cũng đều từ khúc ruột của người mẹ ấy dứt ra mà! Thậm chí với những người con kém may mắn hay ngỗ nghịch đó, người mẹ càng thương xót và khổ tâm dành nhiều tình thương yêu dạy dỗ hơn nữa là khác.
Chúng ta có thể tạm mượn đức tính của Đất để có thể hiểu được phần nào tình thương và tấm lòng quảng đại vô lượng vô biên của Đức Mẹ Từ Tôn: cho dù người ta có đổ hay rải lên đất những thứ tinh sạch và thơm tho như hoa hương, nước ngọt, sữa thơm… hoặc những thứ hôi hám và dơ bẩn như máu mủ, nước thải, phân rác… thì đất cũng tiếp nhận những thứ ấy một cách rất thản nhiên, không tỏ vẻ tự hào cũng như không oán hờn tủi nhục. Vì đất có dung lượng rất lớn, có khả năng tiếp nhận và chuyển hóa tất cả.
Phân tích đến đây chắc có lẽ phần nào trong chúng ta cũng đã cảm nhận được tất cả chúng sanh đều là anh em của nhau (vì đều là con chung của Đấng Cha Lành Thượng Đế). Đã là anh em thì phải biết thương yêu nhau chân thành. Để thương được kẻ ghét mình thì trước hết chúng ta hãy tập thương  từ từ, nếu chưa thể thương được ngay thì cũng đừng có ghét nhau. Để dành đó từ từ rồi cũng sẽ có ngày thương được mà thôi. Để làm được điều này đòi hỏi mỗi chúng ta mỗi ngày hãy dành một khoảng thời gian nhất định để luôn mở lòng cầu nguyện, hồi hướng và phụng sự cho tha nhân những gì tốt đẹp nhất, vị tha nhất thì sớm muộn gì tình yêu thương trong tâm của mỗi người sẽ trỗi dậy một cách rất mãnh liệt, đến một lúc nào đó sẽ không còn phân biệt ta người hay phê phán chỉ trích bất kỳ một ai cả.
CẦU NGUYỆN, HỒI HƯỚNG VÀ PHỤNG SỰ CHO THA NHÂN:
Có lẽ trong mỗi chúng ta ai cũng đã từng cảm nhận được rằng mỗi khi mình cho đi bất cứ điều gì với lòng chí thành, vô tư, không vụ lợi thì sẽ tìm thấy được một nguồn an lạc, hạnh phúc thật sự nơi nội tâm của chính mình và ai cũng có thể cảm nhận được rằng nếu như lúc nào trong tâm mình cũng dành một tình yêu thương chân thành cầu nguyện và hồi hướng về cho bá tánh chúng sanh thì tự nhiên lòng mình sẽ có được một nguồn an lạc thư thái nơi nội tâm của chính mình.
Sở dĩ chúng ta còn nhiều đau khổ do mình chỉ nghĩ đến chính mình, gia đình mình, người thân của mình. Bởi lẽ một khi chỉ nghĩ, cầu nguyện riêng cho cá nhân mình, gia đình mình, người thân mình mà nếu như những lời cầu nguyện đó không được như ý sẽ khiến cho chúng ta cảm thấy đau khổ, thất vọng, buồn bã, lo lắng… vì thế sẽ không thể tìm thấy được nguồn an lạc thật sự nơi thân tâm mình.
Một khi chúng ta bắt đầu chuyển từ cầu nguyện riêng cho cá nhân mình sang cầu nguyện chung cho tất cả vạn linh sanh chúng  thì  đây chính là một bước ngoặc rất quan trọng mang lại hiệu quả thật to lớn cho việc mở rộng tâm từ mà mình không thể nào ngờ đến được. Bởi vì mỗi khi chúng ta chí thành cầu nguyện, hồi hướng chung cho vạn linh sanh chúng sẽ giúp cho tâm mình mở rộng không còn phân biệt chấp ngã ta người và lòng ích kỷ khi chỉ biết cầu nguyện riêng cho những người thân mình nữa. Việc mở rộng tình thương yêu dành cho bá tánh ấy giống như hình ảnh hai chú ếch, một chú thì ngồi dưới đáy giếng và chú ếch còn lại thì ngồi trên thành giếng cùng nhìn lên bầu trời, chú ếch ngồi đáy giếng thì cho rằng bầu trời chỉ to bằng nắp vung nhưng chú ếch còn lại cho rằng bầu trời rộng lớn vô cùng. Tâm mình cũng vậy, nếu chỉ cầu nguyện và hồi hướng cho riêng bản thân mình, người thân mình thì tâm mình chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ hẹp của thường tình ta người. Ngược lại nếu chúng ta mở rộng tâm ra cầu nguyện chung cho cả bá tánh chúng sanh thìtâm từ sẽ phát triển một cách rất vi diệu mà mình không thể nào ngờ đến được. Việc cầu nguyện, hồi hướng và phụng sự chân thành cho tha nhân sẽ mang lại một niềm an lạc thân tâm vô cùng đặc biệt mà trên đời này không phải ai cũng có cái duyên may để được trải nghiệm, mặc dù những cơ hội hương tha như vậy xuất hiện tại mọi lúc mọi nơi. Và niềm vui ấy tự nó đã là một phần thưởng tinh thần vô giá cho chính nội tâm của mỗi người mà chỉ khi nào trải nghiệm thực tế chúng ta mới có được cảm nhận đặc biệt đó mà thôi.
Trong Thánh giáo Cao Đài, Ơn Trên cũng đã có rất nhiều lời khuyên dạy về giá trị và ích lợi của việc cầu nguyện, hồi hướng và phụng sự tha nhân.
Đức Lý Giáo Tông có dạy:
“Lão thấy chư hiền mỗi mỗi đều có tâm thành cầu nguyện. Một là Đại Đạo tiến bộ, hai là quốc thới dân an. Nhưng sự cầu nguyện ấy còn phải quan niệm cho sát thực hơn là cầu nguyện không phải đặt cái ta trên hết. Mà cần phải quan niệm rõ một khi cầu nguyện thì phải tưởng đến đại thể nhơn sanh, quốc gia, xã hội. Phải tưởng đến lòng nhơn đạo để rồi hòa nhịp với hành động đạo đức đi đôi. Để sự cầu nguyện thực tiễn là không nên đặt sự ỷ lại nơi các Đấng mà phải góp phần thực hành theo câu cầu nguyện.”  (14)
“Lời dặn chung đàn nội: Về điểm nguyện cầu của nhơn sanh xin Thiêng Liêng phúc đáp. Hỡi ôi! Đời là bể khổ, thế sự là một thảm kịch quay cuồng. Chính vì đó, dầu Phật, Tiên, Thánh, Thần hiện xuống đủ mặt ở thế gian cũng không làm sao có đủ ngày giờ để thỏa mãn những nguyện cầu ấy, trừ phi Thiêng Liêng thấy nguyện cầu có tánh chất vị tha đại đồng hữu ích cho đại cuộc. Hãy ghi nhớ câu: “Thiện nguyện Thiên tùng, hữu cảm hữu ứng”. Chính trong những lời nguyện lành, tất cả chúng sanh đều có cảm ứng trong hành động, trong lời nói, ở mọi hoàn cảnh, tuy rằng: “Thanh thanh hà xứ tầm, phi cao diệc phi diễn, đô chỉ tại nhân tâm”. Tuy trầm lặng trong chỗ không không, chớ sự ứng hiện mảy lông chẳng sót. Cần có một điều là nguyện phải cho chánh tín; nếu trái lại sẽ bị bàng môn tả đạo dẫn dắt vào mê đồ. Luật vô hình cũng như luật thế gian, kẻ quấy dám làm việc quấy, bất chấp pháp luật…” (15)
Đức Quán Thế Âm cũng đã nêu ra một thí dụ về cầu nguyện như sau: “Ai cũng thường cầu nguyện Thiêng Liêng Trời Phật phò hộ cho mình, cho gia đình mình được an bình hạnh phúc, nhưng có bao giờ cầu nguyện cho mình đủ dạ từ bi để sẻ chia, để thông cảm, xử sự với tha nhân như Đức Chí Tôn đối với chư hiền đệ muội không? Bần Đạo nhận thấy ít có như vậy lắm!” (16)
Đức Lê Đại Tiên có dạy: “Đây là lời dặn chung cho toàn thể chư hiền đệ muội: nhớ niệm danh trong các Đấng Thiêng Liêng mà tín hữu Cao Đài hằng niệm, sẽ được hộ trì khi bịnh hoạn bất kỳ. Nhớ hằng ngày phải để tư tưởng tốt, nghĩa là những tư tưởng lành có ích lợi cho tha nhân thì sự cầu nguyện mới mong kết quả.” (17)
Đức Minh Đức Đạo Nhơn cũng có dạy :
“Phải thật tâm để tìm trong giờ phút thiêng liêng hàng ngày giữa cuộc sống. Giờ phút thiêng liêng ấy luôn luôn đến với những tâm hồn vô tư minh chánh hằng nghĩ đến sự sống còn trong lẽ Đạo. Những người ấy không ước vọng gì riêng tư cho cá nhân mình cả, vì họ đã thông thấu sự công bằng của Tạo Hóa.” (18)
Đức Trần Chơn Nhơn cũng có dạy:
“Chư Hướng Đạo nhờ vô niệm mà thành công, nhờ vô tâm mà đạt pháp, lòng của chúng ta không riêng rẽ cố chấp, lúc nào cũng cầu nguyện cho bốn biển hòa bình, nhơn loại hưởng phước đại đồng, vạn pháp chung về một phương tận độ. Chúng ta không suy nghĩ phái nào sai, người nào kém, mà tôn Quyền trọng Pháp, cung kính các bậc Thiên ân, chiều sớm hướng về Tổ đình duy nhất với lòng vô ngã bất chấp, chư Hướng đạo quyết liệt một mục đích, lèo lái con thuyền, chẳng sợ sóng lớn gió to, xé nước rạch sông xông tới để cứu người hụp bơi đang chờ cứu vớt, lòng ấy đã có, ta cố nuôi dưỡng đến cùng.” (19)
Đức Cao Triều Phát tiền bối cũng có dạy: “Hãy lấy niềm vui khi làm cho kẻ khác. Hãy lấy làm hãnh diện khi xả thân cho tha nhân. Không ai có thể bắt kẻ khác làm cho mình hơn hết là mình làm cho kẻ khác.” (20)
Nhờ vào năng lực cầu nguyện chúng ta sẽ góp một phần giúp cho những chúng sanh hữu duyên sẽ có thêm trợ lực để vượt qua những nghiệp quả tiền khiên mà bản thân chúng sanh đó đã từng gây ra. Ngoài ra có một công quả vô hình rất giá trị  và giúp ích cho chúng sanh rất hiệu nghiệm, đó là  góp phần phá tan điển trược đang tích tụ dẫy đầy khắp cõi trần này. Chúng ta biết rằng, nếu có ai đó vừa mới móng khởi suy nghĩ  hay làm điều gì đó xấu xa tội lỗi thì ngay lập tức xuất hiện một luồng điển trược phóng lên không trung, và nhiều tư tưởng xấu ấy cùng phóng phát lâu ngày sẽ tích tụ thành một khối trược điển khổng lồ. Ở thế gian nếu có ai đó chỉ mới bắt đầu khởi tâm làm điều ác, theo luật nhân quả thì khối trược khí khổng lồ ấy liền tác động đến khiến cho người này bắt tay vào thực hiện hành vi tội lỗi ngay lập tức. Chính vì điều này mà Ơn Trên đã từng dạy: “Công đức tọa thiền lớn biết bao”. Tại sao việc tọa thiền chỉ ngồi một chỗ mà Ơn Trên cho là có công đức lớn quá vậy? Bởi vì khi hành giả ngồi thiền sẽ giúp cho Tâm được thiện lành, trống không, đây chính là khối điển lành (Thanh điển) được phóng lên không trung để chống lại khối trược khí khổng lồ luôn đe dọa chi phối bất kỳ một ai phát khởi tà tâm. Việc cầu nguyện và hồi hướng với lòng thương yêu chân thành đến bá tánh của chúng ta cũng vậy, vì thấy bá tánh chúng sanh còn mãi chịu dập vùi đau khổ trong bể khổ trần ai, chúng ta mới phát tâm chí thành cầu nguyện, hồi hướng điển lành giải khổ cho bá tánh với một tình yêu thương chân thành nhất với tâm không phân biệt và mưu cầu bất kỳ một lợi ích gì cho riêng bản thân mình. Chính những tình thương dành cho bá tánh đó sẽ góp một phần rất lớn trong việc tạo dựng thêm luồng điển thanh chống lại khối điển trược vốn dĩ rất lớn đang tích tụ chung quanh ta. Nếu người người, nhà nhà, nhiều Thánh thất, Thánh tịnh, nhiều Hội Thánh, nhiều tập thể… đều luôn để tâm cầu nguyện hồi hướng thì nguồn thanh điển được phóng lên không trung sẽ rất lớn, từ đó sẽ góp phần không nhỏ tạo nên sự thanh bình, nguồn an lạc cho tất cả vạn linh sanh chúng.
Ơn trên cũng đã từng có nhiều lời khuyên dạy rất có giá trị về cầu nguyện và hồi hướng đối với chúng sanh.
“Thiêng Liêng thường nhắc nhở về sự cầu nguyện hay tịnh tập thể… Sự hữu ích của các thời cầu nguyện hay tịnh tập thể đều do đức tin chơn chánh và bản chất thanh tịnh vô vi của mỗi người. Có đức tin chơn chánh thì không hay tin tưởng loạn động. Có bản chất thanh tịnh vô vi thì thần lực đủ đầy. Hai yếu tố quan trọng nầy để người tu thực hiện được sự cứu độ vô vi. Thế nên cần đến các thời cầu nguyện hay tịnh tập thể để các dòng tư tưởng trọn lành phát xuất từ tâm linh của mỗi tịnh viên hướng lên để cảm hóa cùng Thiên Địa, ứng hiệp với các Đấng Thiêng Liêng như linh quang, như vân võ để biến tỏa thành trận mưa ban phát rưới chan mát mẻ khi con người đang sống trong bầu lửa dục của trần gian.” (21)
“Đêm nay Bần Đạo muốn đề nghị chư hiền đệ muội để dành hai phút hầu bổ túc cho lễ cầu nguyện trong mấy ngày qua để đem lại sự kết quả trọn vẹn. Vậy ngay giữa đàn đây chư hiền đệ muội từ lớn chí bé hãy nhắm mắt lại ngồi ngay xương sống, gom thần lại ngay trán chính giữa hai mí chơn mày. Khi gom thần lại nghe nặng nặng nơi giáp mối chơn mày thì từ trong tâm hướng đưa tất cả lòng cầu nguyện lên không trung tưởng tượng như sẵn sàng tiếp nhận ân điển một bầu nước cam lồ. Sẵn sàng tiếp nhận rồi từ từ đưa lên rải ra tung tóe bốn phương trời cho muôn loài vạn vật đều thọ hưởng.”  (22)
“Chư hiền đệ muội đã có duyên phúc được sinh vào chỗ tương đối an ổn, đã và đang tổ chức cuộc lễ triều kính Thiêng Liêng là vì nhờ tâm đạo công đức chi? nên cơ duyên hạnh phúc đã an bài cho được an ổn tiện bề tu thân hành đạo, hiến lễ. Vậy chư đệ muội hãy hướng tâm linh vào những nơi xa xôi, những vùng đất bất hạnh để cầu nguyện đưa điển lành trợ duyên cho những nơi ấy.” (23)
“Hỡi chư hiền sĩ, chư hiền muội! Giữa đêm trường đầy dẫy lằn hắc khí xung thiên, những lằn hồng quang điển chư hiền nơi đây xung lên, vẹt đám mây mù hắc khí nơi này. Nếu được phổ độ thêm nhiều sanh linh, tạo nhiều hồng quang điển: hễ hồng quang điển đến đâu thì nạn tai tránh xa đến đó. Vì vậy, Bần Đạo khuyên người tín đồ Đại Đạo, không luận chức sắc thiên phong, đều có bổn phận tự giác, giác tha, làm thế nào để được xứng danh nghĩa Tam Kỳ Phổ Độ.”(24)
“Sự cầu nguyện tuy có nhiều hình thức và phương pháp cầu nguyện nhưng nếu hợp nhau lại tổ chức một buổi cầu nguyện chung như vậy sẽ là một niệm lực hùng mạnh dâng lên không trung và bao trùm rải xuống khắp chốn để cảm hóa lòng người hướng về sự ước muốn thái hòa an lạc đó. Chư đệ muội không nguyện cho riêng mình là đã thể hiện tấm lòng vị tha.” (25)
5. NHẬP THẾ VÀ XUẤT THẾ SONG HÀNH:
Đức Bảo Pháp Chơn Quân Thanh Long có dạy:
“Lấy công quả đền bù nợ trước,
Dụng công phu chế ước lòng tà,
Để rồi tự giác giác tha,
Song hành Phước Huệ mới là viên thông”. (26)
Thầy cũng có dạy:
“Nhờ công phu con siêng học Đạo,
Nhờ công phu con bảo toàn căn;
Mới mong sửa tánh thấp hèn,
Mới thâu vọng tưởng mới tăng an hòa.” (27)
Công quả vừa giúp chúng ta rèn luyện tình yêu thương chân thành vừa giúp giải trừ được những oan khiên nghiệp chướng mà mình đã gây tạo từ vô lượng kiếp đến nay (giảm bớt khổ đau); Công phu tịnh luyện chính là một món “bửu bối” rất hiệu nghiệm giúp chúng ta chế ngự được lòng tà, sửa được tánh thấp hèn, thâu được vọng tưởng, phóng tâm. Có tự giác được rồi chúng ta mới có thể giác tha. Có tu, có đức, có trí huệ mới không dẫn dắt người khác đi lầm đường lạc lối. Có thực hiện được như vậy chúng ta mới tìm thấy được nguồn an lạc thật sự nơi thân tâm của chính mình.
            C. THAY LỜI KẾT:
Thế gian là trường tiến hóa, con người đến nơi này để tu học lập công nhằm tiến hóa tâm linh và thuận theo cơ tiến hóa của Trời đất. Vì thế chúng ta phải “cảm” và “đắc” được bản chất của cuộc đời là giả tạm, vô thường, mộng ảo phù du. Có cảm nhận được điều đó mới giúp chúng ta bớt khổ đau, bất hòa, hơn thua, giận hờn, khoe khoang, tự cao tự đại, chấp ngã, phô trương sắc tướng bề ngoài, tranh dành quyền lực, tham lam tiền tài danh vọng… Hơn nữa, chúng ta biết rằng hạnh phúc đích thực của đời người chính là những gì mình làm cho kẻ khác, là cầu nguyện, hồi hướng điển lành và phụng sự cho tha nhân, bên cạnh đó nhờ công phu tịnh luyện để sửa tánh thấp hèn, mới thâu được vọng tưởng. Có làm được những điều như vậy thì nguồn an lạc thật sự sẽ luôn tự nhiên xuất hiện hằng hữu nơi thân tâm của mỗi người.
Chánh Tuân.


================================================
Chú thích:
(1): Đức Quan Âm Bồ Tát, Thánh Thất Tân Định, 15.7 Giáp Thìn (1964)
(2): Đức Di Lạc Thiên Tôn, Trúc Lâm Thiền Điện – Vĩnh Long, 18.7 Kỷ Dậu (1969)
(3): Đức Cao Đài Tiên Ông, 20 tháng 8 – Bính Tý (1936) – Đại Thừa Chơn Giáo
(4): Đức Đông Phương Chưởng Quản, Minh Lý Thánh Hội, Tuất thời 26-9 Mậu Thân (16-11-1968)
(5): Đức Diêu Trì Kim Mẫu, CQPTGLĐĐ, 13-8 Mậu Ngọ (14-9-1978)
(6): Đức Quan Âm Bồ Tát, Huờn Cung Đàn, Tý thời, 14 rạng  Rằm tháng 5 Ất Tỵ (13-6-1965)
(7): Đức Diêu Trì Kim Mẫu, Vĩnh Nguyên Tự, 15-8 Quý Sửu (11-9-1973)
(8): Đức Lý Đại Tiên, Thanh Quang Thánh Tịnh, đêm 15-2 Đại Đạo năm thứ 11 (1936) – Trích “Tà Chánh Yếu Ngôn”)
(9): Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, mồng 4 tháng 9, Bính Tý (1936) – Bài Kiên Nhẫn – Đại Thừa Chơn Giáo
(10): Đức Diêu Trì Kim Mẫu,Thiên Lý Đàn, 01-4 Ất Tỵ (01-5-1965)
(11): Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Ngọc Minh Đài, Tuất thời, 29 tháng Chạp Bính Ngọ (8-2-1967)
(12): Đức Diêu Trì Kim Mẫu, CQPTGLĐĐ, Tuất thời 26 tháng Chạp Nhâm Tý (29 – 01 – 1973)
(13): Đức Diêu Trì Kim Mẫu; Thánh giáo sưu tập của CQPTGLĐĐ năm Đinh Mùi 1967)
(14): Đức Lý Giáo Tông, Nam Thành Thánh Thất, 23.8 Tân Sửu (1961)
(15): Đức Lý Thái Bạch, Thiên Lý Đàn 20.5 Ất Tỵ (19.6.1965)
(16): Đức Quan Thế Âm, Nam Thành Thánh Thất, 14.10 Canh Tuất (1970)
(17): Đức Lê Đại Tiên, CQPTGLĐĐ, 29.7 Mậu Thân (1968)
(18):  Đức Minh Đức Đạo Nhơn, CQPTGLĐĐ, ngày 15.11 Giáp Dần (28.12.1974)
(19): Đức Trần Chơn Nhơn (Trần Nguyên Hiệp Lý), Thánh Truyền Trung Hưng tập 3
(20): Đức Cao Triều Phát Tiền Bối, Nam Thành Thánh Thất, 01-01 Ất Tỵ (02-02-1965)
(21): Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn, Vĩnh Nguyên Tự 15.3 Ất Mão (1975)
(22): Đức Lý Giáo Tông, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý 22.4 Nhâm Tý (1972)
(23): Đức Lý Giáo Tông, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo 9.01 Quý Sửu (1973)
(24): Đức Quan Âm Bồ Tát, Huờn Cung Đàn, Tý thời, 14 rạng Rằm tháng 5 Ất Tỵ (13-6-1965)
(25): Đức Lý Giáo Tông, CQPTGLĐĐ, ngày 22.4 Nhâm Tý (1972)
(26): Đức Bảo Pháp Chơn Quân Thanh Long Lương Vĩnh Thuật, Thánh Truyền Trung Hưng tập 4
(27): Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tý thời, 17 tháng 8 Canh Tý (07-10-1960)