Hiển thị các bài đăng có nhãn Những điều tâm đắc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Những điều tâm đắc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2015

NỀN TẢNG CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO – TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC “LUYỆN ĐƠN NẤU THUỐC”

Thánh nhãn


 NỀN TẢNG CAO ÐÀI ÐẠI ÐẠO
(Mùng 01 tháng 09 Bính Tý 1936 – Trích Kinh Đại Thừa Chơn Giáo)
Thi:
GIÁC đạo thông thường lý chánh chơn,
MINH tâm dưỡng tánh luyện kim đơn,
KIM thân đắc ngộ siêu tam giới,
TIÊN Phật chứng thành gội đức ơn.
Chào chư hiền nam nữ kim đàn.  Ngã giờ hôm nay, vì đắc lịnh CHÍ TÔN đến bày tỏ đôi lời Ðạo Ðức.  Vậy chư hiền thành tâm tịnh đàn, nghe tiếp.

Trường Thiên:
Ðạo đời hai nẻo lại qua,
Người tu khuyên khá tìm ra cội nguồn.
Trần ai ngây ngất khói un,
Nhơn tình chôn đắm vào khuôn khổ đời.
Kìa là vật đổi sao dời,
Non mòn biển cạn cơ Trời biến thay.
Họa chung chịu những đắng cay,
Biết phương thoát khỏi trần ai não nùng.
Ðời người sao khỏi kiết hung,
Nương thoàn Ðạo đức vẫy vùng thoát mê.
Thi:
Mê đắm tình đời luống khổ tâm,
Muôn thu chịu mãi bước sai lầm,
Xa đường Thiên Ðạo không trông thoát,
Nhơn dục cháy bừng đốt trí tâm.
Tâm phàm tử, Ðạo đức sanh,
Làm cho trí huệ hiệp thành Phật, Tiên.
Nương thoàn thẳng tới Ðào Nguyên,
Là nơi an lạc niên niên hưởng nhàn.
Phú:
Bần Ðạo dòm thấy cuộc đời người biết bao nhiêu hạng mê say vì tửu khí sắc tài,
Mà đành chôn hết cả thân mình vào trong gió bụi,
Kiếp người ngắn ngủi, thoạt mất thoạt còn,
Luyến hồng trần làm mờ ám trí huệ sắc son.
Sa mùi tục tiêu mòn tinh thần Ðạo đức,
Ai là người trí thức, ai là kẻ hiền nhân,
Trải mắt xem thời cuộc quốc dân thì rõ biết luân thường đà bại hoại.
Lửa tham dục lừng lên cháy mãi,
Sóng ái tình bủa khắp chỗ, làm phá hoại nền phong hóa suy tồi.
Khói độc bay khắp chỗ, nhơn vật đồng mê mẫn lúc tỉnh hồi say.
Ôi! là khổ mà mấy ai dòm ngó kỹ!
Thi:
Ngó kỹ mà coi khổ quá chừng,
Sóng tình cuồn cuộn sớm dời chưn,
Nhảy ra cho khỏi vòng nô lệ,
Dụt tắt lửa lòng Ðạo đức hưng.
Thi Bài:
Ðuốc chơn lý khêu đà sáng tỏ,
Ðạo đức truyền đời rõ căn nguyên,
Hồi đầu thọ pháp tâm truyền,
Lo trau luyện tánh, Phật, Tiên đắc thành.
Xa nẻo Ðạo tánh lành mờ ám,
Khối tinh thần suy giảm muội mê,
Cả mang tham dục nặng nề,
Thê thằng tử phược khó bề thoát thân.
Chôn trí huệ trong trần đày đọa,
Bỏ thiện căn tai họa chập chồng,
Cuộc đời có hóa ra không,
Bỡi chưng cá chậu chim lồng khổ thay!
Ðời loạn lạc miệt mài tâm trí,
Ðạo suy tồi ma quỉ hừng lên,
Phá hư giáo lý móng nền,
Muôn nhà trăm họ tiếng rền thở than.
Nay Ðạo đức mở mang phong hóa,
Tỉnh quốc hồn lánh họa an nhàn,
Bước theo thẳng một con đàng,
Trở về cựu vị hưởng nhàn thiên thu.
Mặc kẻ thế võng dù xe ngựa,
Lòng nhiễm trần lo rửa cho ra,
Hiệp thành chơn lý tinh ba,
Sửa mình nên Ðạo ôn hòa thiện lương.
Thi:
Lương phương diệu dược đã tầm ra,
Ắt dứt si mê hết bịnh tà,
Hồn vía tỉnh say thì tự hối,
Khử trừ dứt tuyệt chứng trầm kha.
Thành tâm tiếp giá PHỤ HOÀNG ngự lâm. Ngã chào chư hiền, ngã kiếu. Thăng.
* * * * *
Thi:
NGỌC minh chiếu diệu bửu linh thiên,
HOÀNG phụ hoát khai pháp chánh truyền,
THƯỢNG đức tịnh tâm tu đắc quả,
ÐẾ căn phản bổn hiệp thiên nhiên.
Thầy các con. Thầy mừng các con.
Thi:
Thiên nhiên lý Ðạo chẳng phai mòn,
Mòn ấy là do tại các con,
Con biết siêng năng đào luyện mãi,
Thì là sáng suốt tợ châu son.
Son sắt một niềm chớ đổi thay,
Gìn ghi Thánh huấn Ðạo phô bày,
Nương thoàn bát nhã hồi nguyên bổn,
Níu vững chơn truyền kẻo sẩy tay.
Sẩy tay lọt tuốt xuống A Tỳ,
Chịu những khổ sầu rắc rối nguy,
Mờ mịt biết đâu tầm trở lại,
Chung quanh bao chặt bít đường đi.
Ði lại mấy lần dạy bảo con,
Siêng năng tu tịnh phận lo tròn,
Sớm khuya chăm chỉ cơ siêu thoát,
Thiện phước vò tròn một quả ngon.
Quả ngon dành để đợi chờ con,
Hưởng thử đào tiên vĩnh kiếp tồn,
Tự toại tiêu diêu nơi đảo Thánh,
Vui say mùi Ðạo chốn Bồng non.
Non Tiên dưỡng tánh mấy muôn đời,
Khổ hạnh trải qua khắp mọi nơi,
Tấn hóa noi theo chơn lý Ðạo,
Dày công mới thể đoạt cơ Trời.
Cơ Trời mầu nhiệm dễ gì tầm!
Suy nghĩ cho ra tránh lỗi lầm,
Thoát kiếp luân hồi nhờ trí huệ,
Siêu phàm nhập Thánh tại nơi tâm.
Tâm giác làm nên Phật, Thánh, Tiên,
Người tu noi đấy đoạt nhơn duyên,
Tâm mê dẫn dắt làm ma quỉ,
Lộn kiếp lông sừng chịu đảo điên.
Ðiên đảo lòng con nỗi Ðạo đời,
Ðời còn rộn rực luyến mê chơi,
Ðạo thì cũng muốn tu thành Phật,
Theo Ðạo thì con lại tiếc đời.
Tiếc đời nên cứ đắm vùi thân,
Thầy đến vớt lên đã mấy lần,
Tánh tục vẫn ưa màu sắc đẹp,
Lòng phàm khó dứt khổ mê tân.
Tân trào cuồn cuộn sóng văn minh,
Bủa khắp nền nhân đã gập ghình,
Gió phất bùa mê đời muội trí,
Dấy hừng vật chất thấy mà kinh.
Kinh sợ sau này có chuyện nguy,
Sanh linh chung chịu cuộc sầu bi,
Thầy thương không lẽ khoanh tay ngó,
Lập Ðạo toan phương giải thoát thì.
Thì giờ Thầy đã tái lâm rồi,
Che chở cho đời tránh khúc nôi,
Những tưởng tin và hành Ðạo đức,
Thầy dùm giúp sức thoát luân hồi.
Hồi nào mê muội lỗi lầm sanh,
Biết Ðạo toan phương tập tánh lành,
Vùng vẫy thoát ra màn hắc ám,
Chống đương lũ quỉ bước cho nhanh.
Nhanh lẹ kịp đò kẻo trể con!
Trể chơn trông đợi trí tâm mòn,
Bao giờ gặp đặng thuyền qua nữa,
Tiếng trống giục hồn tỉnh thức con.
Con thông đạo lý của CAO ÐÀI,
Luyện vóc kim thân trí huệ khai,
Tấn hóa tự nhiên đừng vọng tưởng,
Tưởng đều hình bóng đó là sai.
Thầy giải sơ về “Nền Tảng Cao Ðài Ðại Ðạo“.
Cái qui củ chuẩn thằng của Ðạo đức phải noi theo mà hành cho trúng phép, chớ nên canh cãi phải sai lạc chơn truyền.
Về phương pháp tu tánh luyện mạng, thì vô vi, vô xú, các con tu luyện phải lo dụng công vận chuyển pháp luân y theo tâm truyền khẩu thọ.  Nên hay không, là về phần trừu tượng vô vi, các con lấy trí phàm mắt tục mà lường đo dòm ngó sao thấu đáo?  Thành hay không, là tại nơi các con trọn đủ đức tin, siêng năng tập luyện, về phần vô hình thì trên có Thầy bố hóa cho, các con nào biết chi mà mong mỏi.
Ðạo mầu một ngày một mở mang rộng lớn, người tu cũng thế.  Luyện đơn nấu thuốc không phải một ngày một buổi chi mà thành, phải tận tâm trì chí cứ lo tu gom thần nhập định, bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần, lâu ngày tụ kết lại thành nhị xác thân nhưng phải luyện cho đủ đầy ngày tháng, chớ đừng nóng nảy.  Thí như cái cây, gieo hột xuống, nứt mộng lên hai lá, lần lần đâm tược nhảy chồi, đơm hoa trổ trái , là do nơi quyền luật thiêng liêng.  Nó hấp thụ khí âm dương mà lần lần to lớn.  Chớ có ai làm cho nó lớn đặng?  Và muốn mau trổ trái đơm bông bao giờ? Xưa người nước Tống cấy mạ thấy lâu lên, nóng ra nhớm gốc cho nó cao thêm, không ngờ phải chết.  Ấy là cái triệu chứng để cho các con noi đấy làm bằng, cứ lo tu tịnh đừng nhiều chuyện lắm lời, tầm kinh điển, đơn thơ, làm cho trí óc mờ hồ lộn xộn.  Thánh hiền xưa lấy (mượn) nhiều tên đặt để ra món này vật kia, muôn đường nghìn ngõ, nào là long hổ giáng thăng, Càn Khôn giao hiệp, biết bao nhiêu là tên, người sau lầm tưởng mà làm sái quấy luôn.
Ðạo Thầy không chi lạ: ÂM với DƯƠNGTHẦN với KHÍ;  không ngoài ra lẽ đó.  Các con muốn rõ Ðạo thì dùng Âm Dương là căn cơ vậy.
Trường Thiên:
Dựng nền tảng ÐẠO CAO ÐÀI,
Phổ thông chánh pháp chia hai chơn truyền.
Hữu hình hiệp với thiêng liêng,
Thì là rõ thấu căn nguyên Ðạo mầu.
Ðịnh hồn thấy hiện minh châu,
Chiếu soi khắp cả Hoàn Cầu quang huy.
Tâm truyền Nội Giáo Vô Vi,
Là cơ xuất thế hồi qui Ðộng Ðào.
Luyện hồn sáng suốt thanh cao,
Linh quang sẽ đặng nhập vào bổn nguyên.
Chừng nào quả mãn công viên,
Bửu phang chực rước thiêng liêng trở về.
Ðạo làm người hết mẫn mê,
Ðạo hưng thâm thúy ắt kề Phật, Tiên.
Chỉ phương nhập định tham thiền,
Tri cơ căn Ðạo bí truyền luyện tu.
Vẹt lằn khói tỏa sương mù,
Chín tầng Trời Ðất thanh u thông đồng.
Thầy truyền có một chữ “Không“,
Chữ “Không” làm đặng lục thông chứng thành.
Người tu tập sửa tánh lành,
Cho ra vẻ Ðạo cho rành lý chơn.
Ðáp đền cho vẹn nghĩa ơn,
Nhẫn hòa, khiêm nhượng, lòng nhơn trải đời.
Ðừng làm chuyện quấy trò chơi,
Noi theo Thánh Triết truyền lời lại kia.
Siêng cần dậy sớm thức khuya,
Ðạo tâm một khắc đừng lìa nó ra.
Người mà để Ðạo đức xa,
Nội trong giây lát quỉ ma xen vào.
Tưởng tin Tiên, Phật trên đầu,
Giúp mình tu luyện dài lâu vững bền.
Tuyệt nhiên thanh tịnh là nền,
Dụng công khổ hạnh mới nên Thánh Hiền.
Dễ gì làm đặng Phật, Tiên!
Ðặng là nhờ pháp bí truyền mà thôi.
Ngoài ra thì khó mong rồi!
Tu không luyện mạng luân hồi hưởng an.
Dẫu nhiều công đức thế gian,
Sau này hưởng phước giàu sang với đời.
Dễ chi nhập đặng cửa Trời,
Dễ chi thoát khỏi luân hồi tử sanh!
Tại sao?  Tại chẳng chí thành,
Kim Thân chẳng có, cao thanh khó về.
Xác phàm chất trược nặng nề,
Linh hồn chôn chặt không bề nhảy ra.
Những giây cột trói lắm đa,
Không tường manh mối khó mà mở xong.
Dính theo thể phách ngoài trong,
Nặng nề trầm xuống mỏi mong gì thành.
Linh hồn tuy vẫn trường sanh,
Thần thông quảng đại vận hành thiêng liêng.
Luận qua Ngoại Giáo Công Truyền,
Phổ thông chơn lý Ðạo huyền độ nhơn.
Dạy người chí thánh chí chơn,
Vẹn tròn trung hiếu nghĩa nhơn hiền lành.
Chánh tâm tu kỷ tập tành,
Tề gia, trị quốc, đời lành an bang.
Nên người quân tử hoàn toàn,
Thanh liêm hạnh đức mở mang giúp đời.
Trên không phạm phép Phật, Trời,
Với tâm khỏi lỗi, với đời gọi tu.
Kết thành đoàn thể dài lâu,
Liền vây liền cánh giúp nhau trọn niềm.
Kìa là sông cá rừng chim,
Có đoàn có thể, nổi chìm có nhau.
Nương theo lớn trước nhỏ sau,
Chim bay em thấp anh cao một chiều.
Biết điều trìu mến thương yêu,
Giữ gìn quyền lợi làm điều ích chung.
Mày râu báo quốc tận trung,
Vẹn câu hiếu đạo lao lung một lòng.
Nghĩa nhân giữ kỹ trọn xong,
Vì nhau chung chịu mới mong ưu thời.
Ðạo còn nương dựa với đời,
Dùng hình thức để cho người tầm tu.
Tâm Truyền thứ lớp công phu,
Công Truyền trật tự chư nhu hoàn toàn.
Ðạo mà thể một con đàng,
Thì chưa phải Ðạo minh quang Phật, Trời.
Ðạo vô hình ảnh trong đời,
Ðạo không tâm tiếng người người tuân theo.
Cội nguồn biến hóa ẩn bày,
Có tên tuổi đó là ngày hóa sanh.
Người tu đến bực chí thành,
Làm cho Thiên lý lưu hành bốn phương.
Nhơn dục tịnh tận thuần dương,
Mâu ni then máy mở đường siêu sanh.
Thi:
Sanh ra rồi chết, chết đi đâu?
Xác thịt rã tan chẳng mấy lâu,
Linh tánh tinh anh trên cõi thượng,
Sao không mượn Ðạo luyện tâm mầu?
Mầu vi đào tạo vóc kim thân,
Luyện đặng kết thành nhị xác thân,
Bát Bửu Kim Cang nền Thánh Ðức,
Phiêu lưu định trí xuất Chơn Thần.
Chơn Thần xuất khỏi xác phàm phu,
Nương gió bay lên cảnh tuyệt mù,
Nhẹ gót phiêu lưu trong Võ Trụ,
Mặc tình an hưởng mặc châu du.
Du lịch khắp cùng cõi thế gian,
Xem qua tình trạng động lòng than,
Nhơn sanh mắc phải trong vòng khổ,
Thấy vậy mà Thầy đổ lụy chan.
Chan chứa lòng lo cứu thế thời,
Tang thương biến cải các con ơi!
Họa chung thế giới đồng tiêu diệt,
Lánh khỏi nhờ chưng biết ÐẠO TRỜI.
Trời, Phật từ bi nhỏ phước lành,
Chở che tai họa độ nhơn sanh,
Nhủ khuyên mỏi miệng đời toan dữ,
Giận bấy đoàn con chẳng thiện hành.
Thầy ban ơn các con. Thầy thăng.
Trích Kinh Đại Thừa Chơn Giáo

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2010

Tâm không



DẦU HẮC
Upasika Kee Nanayon - Diệu Liên Lý Thu Linh dịch


Cư sĩ Upasika Kee Nanayon (1901-1978) là một trong những nữ giảng sư nổi tiếng của Thái Lan ở thế kỷ 20 nầy.  Bà cũng là tác giả của nhiều tập thơ nổi tiếng. Năm 1945, bà thành lập một trung tâm Thiền nhỏ trong vùng núi ngoại ô Bangkok. Phật tử từ khắp nơi trên đất nước Thái Lan tụ về đó để nghe bà giảng pháp, cho đến khi bà mất năm 1978. Bài giảng này được trích dịch từ quyển An Entangled Knowing: The Teaching of a Thai Buddhist Lay Woman.  Bài này do Tỳ kheo Thanissaro dịch từ tiếng Thái sang tiếng Anh.
Dầu biết tu tập, ta vẫn thường bị sa ngã vì các cảm thọ của mình. Xét dưới nhiều khía cạnh, các cảm thọ chỉ là ảo tưởng. Chúng vô thường, không xác thực.  Thay vì mang đến cho ta sự tự tại, chúng chỉ khiến ta thêm căng thẳng - vậy mà ta vẫn bám víu vào chúng.  Hãy suy gẫm cho thấu đáo về sự bám víu vào thọ ấm này của chúng ta. Đôi khi chúng ta phải trải nghiệm với những khổ đau dường như vượt quá sức chịu đựng của mình. Khi các cảm giác đau đớn, khó chịu dấy khởi, tâm ta sẽ phản ứng ngay vì nó không thích sự đau đớn, khó chịu. Nhưng khi sự đau đớn đó biến thành dể chịu thì tâm chấp nhận, ưa thích điều đó. Vì thế tâm tiếp tục chạy tìm các cảm thọ thoải mái, dễ chịu, dầu như ta đã biết, cảm thọ luôn biến đổi, gây căng thẳng, và không thật sự là của ta. Nhưng tâm không biết được điều đó, nó chỉ biết đến sự dễ chịu của các cảm thọ, và nó đòi hỏi được có thêm. Hãy quán sát thêm xem các cảm thọ đã dấy khởi trong lòng ta bao ham muốn. Vì ta muốn luôn có được các lạc thọ, nên lòng ham muốn luôn lôi cuốn, rót bên tai những lời khuyến khích. Nhưng nếu ta có thể diệt trừ được lòng ham muốn các cảm thọ, thì đó chính là con đường dẫn tới Niết Bàn. 
Đức Phật bảo u minh giống như một cơn lũ lớn, có thể cuốn phăng ta đi. Nhưng Đức Phật đã dạy ta những phương tiện, cách thực hành để vượt qua được cơn lũ đó, đơn giản là đoạn diệt được lòng ham muốn trong mọi hành động.  Ngay chính trong các cảm thọ, ta cũng cần phải thực tập buông bỏ lòng ham muốn.
Hãy thực tập ở ngay trong ta. Khi tâm có được cảm giác yên tĩnh, bình an, đó là một cảm thọ dễ chịu hay sự buông xả.  Hãy cố quan sát xem cảm thọ dễ chịu đó vô thường như thế nào, tại sao nó không phải là ta hay của ta. Khi ta có thể ngưng lại ngay nơi đó, ngay lúc tâm đang thụ hưởng những gì lạc thọ đang mang đến, và phát khởi lòng bám víu. Đó là lý do tại sao tâm ta cần luôn tỉnh thức, quan sát chính nó và những gì xảy ra quanh nó - trong sự chú tâm để nhìn thấy cảm thọ chỉ là trống không.
Việc ta thích hay không thích một cảm thọ là một căn bệnh khó khám phá, vì nỗi say  mê của ta với các cảm thọ quá mạnh mẽ.  Ngay cả khi tâm ta trống vắng hay bình lặng, chúng ta vẫn tràn ngập các cảm giác. Những cảm giác thô lậu - mạnh mẽ, căng thẳng do vô minh gây ra - có thể được nhận biết rõ ràng, nhưng khi tâm bình lặng - sáng suốt, thoải mái, không dao động, vân vân - chúng ta vẫn bám chặt vào các cảm thọ này.  Ta muốn có được những cảm thọ dễ chịu để tận hưởng chúng. Ngay chính khi ở trong trạng thái chú tâm mạnh mẽ hay thiền định, ta cũng bám víu vào cảm thọ.
Lòng ham muốn như có sức hút nam châm để gắn chặt mọi thứ lại với nhau. Sự gắn bó này ta khó nhận biết vì lòng ham muốn luôn thầm thì bên trong ta "Tôi không ham muốn gì hơn là những cảm giác dễ chịu". Nhận ra được điều đó rất quan trọng, vì chính những con vi trùng của ham muốn đã đưa chúng ta đi mãi trong vòng luân hồi sinh tử.
Chúng ta gắn bó với cảm thọ như một con khỉ bị dính dầu hắc. Khi tay này bị dính dầu hắc, khỉ đưa tay kia để gỡ, thì tay đó cũng dính luôn, rồi đến chân đến miệng nó cũng bị dính.  Hãy suy gẫm về những điều sau đây: bất cứ chúng ta làm gì, cuối cùng ta cũng bị dính vào với cảm thọ và lòng ham muốn,Ta không thể tháo gỡ chúng ra, không thể tẩy gột. Nếu ta không cẩn thận với lòng ham muốn, ta cũng giống như con khỉ bị dính dầu hắc. Càng lúc càng bị dính chặt thêm. Vì thế nếu ta quyết tâm đi theo bước chân của các vị giác ngộ, các bậc A –la-hán, ta phải chú tâm chánh niệm vào các cảm thọ cho đến lúc ta hoàn toàn thoát khỏi sự bủa vây của chúng.  Ngay với các khổ thọ, ta cũng phải huân tập - vì nếu ta sợ các khổ thọ, luôn muốn biến nó thành lạc thọ, thì ta càng trở nên vô minh hơn trước nữa. 
Đó là lý do tại sao ta phải can đảm trong việc đối mặt với các khổ thọ nơi thân tâm. Khi khổ thọ dấy khởi ngùn ngụt như một căn nhà đầy lửa, ta có thể buông nó không? Ta phải nhìn cả hai mặt của nó như thế nào? Và khi nó êm ái, dễ chịu, ta phải nhìn xuyên suốt nó như là cả hai (lạc và khổ) làm sao? Ta phải cố gắng chú tâm vào cả hai mặt đó, quán cho đến khi nào ta biết phải làm thế nào để buông bỏ chúng. Nếu không ta chẳng biết gì cả, vì lúc nào ta cũng chỉ muốn cái phần dễ  chịu, êm ái của lạc thọ.
 
Niết Bàn là sự đoạn diệt của lòng ham muốn.  Như thế nếu ta cứ muốn bám vào ham muốn mãi, thì làm sao ta có thể đi được đến đâu? Ta sẽ ở đây trong thế giới này, trong khổ đau, bức rức, vì lòng ham muốn giống như một loại dầu hắc dính chặt. Nếu không có lòng ham muốn, thì không có thứ gì khác: không có căng thẳng, khổ đau, không tái sinh. Trái lại, thì nó là mủ cây, là dầu hắc, là màu nhuộm khó có thể tẩy giặt.
 Để mở cánh cửa nhìn được vào nội tâm ta không phải dễ, nhưng cũng có thể làm được, nếu ta biết cách huấn luyện mình. Nếu ta có chánh niệm để tự soi xét mình, tự biết mình thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn. Khi đó, dầu lòng ham muốn có ngụy trang như thế nào, ta cũng sẽ nhận ra nó, biết nó để đoạn diệt, buông bỏ nó.
Ở giai đoạn bắt đầu ta chỉ cần quan sát sự vật, chỉ cần tỉnh thức. Nếu nôn nóng, ta sẽ làm hỏng hết mọi việc, khiến ta không còn có thể nhìn sự vật một cách rõ ràng. Ta chỉ dừng lại ở chỗ nhận biết và không thể đi xa hơn nữa. Vì lý do đó, ta phải luyện tâm, chú tâm đến độ ta có thể nhận biết sự việc một cách rõ ràng, coi như chúng là các đối tượng mà ta luôn phải quan sát. 
Diệu Liên Lý Thu Linh

Thánh Ngôn Thánh Giáo Cao Đài Tâm Đắc Nhất




Con có Thánh Tâm sẽ có Thầy,
Thầy là cha cả của Đông Tây;
Đông Tây dù biết hay không biết,
Thì Đức Háo Sanh cũng thế này!
Ngọc Hoàng Thượng Đế - TGST

Lòng con tin Đấng Cao Đài,
Đạo Đời Trời sẽ an bài cho con.
Ngọc Hoàng Thượng Đế - TGST

Cần lo học Ðạo chí đừng lơi,
Phú quí sương tan lố bóng Trời.
Lợi lộc xôn xao rồi một kiếp,
Nghĩa nhơn tích trữ để muôn đời.
Ngọc Hoàng Thượng Đế - TNHT

Đường đời danh lợi dừng chân,
Còn mê luyến phải tấm thân đọa đày.
Có không như lật bàn tay,
Khổ vui, vui khổ mấy ai tỉnh hồn.
Ngọc Hoàng Thượng Đế – TTTH 4

Các con không thương được kẻ ghét mình 
thì khó mong gần Thầy.
Ngọc Hoàng Thượng Đế - TGST

Nghiệp lành dữ rốt rồi là nghiệp,
Sắt hay vàng đều xích xiềng thân;
Chi bằng tâm chí lâng lâng,
Nhổ mầm tình thức đoạn nhân tục phàm.
Diêu Trì Kim Mẫu – TGST

Tham chi sự thế lắm đua tranh,
Cái miếng đỉnh chung xúm giựt giành;
Bỏ hết trong cơn mê một giấc,
Trăm năm ngắn ngủi nhớ làm lành.
Ngọc Hoàng Thượng Đế - TNHT

Chim khôn biết kiếm đậu cây lành,
Người thiện phải ngừa đức háo sanh;
Tôn trọng người như Trời với Phật,
Thương yêu cả hết chúng sanh thành.
Ngọc Hoàng Thượng Đế - TNHT

Xét muôn việc có tay Thượng Đế,
Nằm bên trong mưu kế con người;
Bên trong tất cả sự đời,
Ý người  tính có ý Trời kèm theo.
Đức Trần Hưng Đạo – TTTH 4

Bạc nhơn ngã thị phi chứng Thánh,
Đắm lợi danh mê cảnh đọa phàm;
Lòng còn ưa, thích, muốn, ham,
Khó bề nên Đạo, khó làm nên thân.
Đức Trần Hưng Đạo – TTTH 4

Tâm đã động, tình đời đã động,
Tâm định rồi, tình trống không không;
Không chấp ngã, không dị đồng,
Bắc, Nam, hiệp một, Tây, Đông chung đường.
Đức Trần Hưng Đạo – TTTH 4

Đã biết là bể dâu thay đổi,
Đã biết rằng mây nổi rồi tan;
Hơi mô nói chuyện dinh hoàn,
Lo đường đạo đức thanh nhàn dài lâu.
Hải Triều Thánh Nhơn – TTTH 4

Đừng lẩn quẩn trong vòng danh lợi,
Mà phải cam sớm tối khổ sầu;
Đời tàn chẳng được bao lâu,
Có tu mới tránh khỏi bầu tang thương.
Đông Phương Lão Tổ – TTTH 4

Vào tu sớm sớm cho rồi!
Đừng đi vơ vẩn, đừng ngồi ngẩn ngơ!
Có gì mộng ảo mà mơ?
Có chi giả tạm mà chờ uổng công?
Quan Thánh Đế Quân – TTTH 2

  Lo tu thân nhờ Trời che chở,
Lo tu tâm có thuở thanh nhàn;
Đời người mai khóc chiều than,
Phù sinh mộng ảo tro tàn chớ chi.
Đào Hoa Thánh Mẫu – TTTH 3

Ta thương nhau thì THẦY yêu quí,
Ta ghét nhau làm lụy Đạo nhà;
Ta còn lắm tiếng lại qua,
Cũng như xẻ thịt phanh da của THẦY!
             Chơn Giác Nương Nương – TTTH 3
  
Ai còn có tính tự cao,
Cửa Tiên thanh tịnh, làm sao được về.
Ai còn có tính khen chê,
Thị phi danh lợi, khó bề tu đơn.
Đức Bửu Nương – TTTH 4

Người tu hành tâm không vọng động,
Dầu cảnh đời gió lộng sóng xao,
Tâm như gương sáng làu làu,
Không vương phiền não, thoát rào quả nhân
Diêu Trì Kim Mẫu – TGST

Giựt giành rốt cuộc cũng tay không,
Nhân quả đeo mang tội chất đồng;
Ví biết phép công cơ thưởng phạt,
Ðường tu sớm bước chí thong dong.
Ngọc Hoàng Thượng Đế - TNHT

Làm lành cho trọn Phật Trời thương,
Hai chữ hơn thua chớ liệu lường;
Mừng thiệt là khi nương cảnh tịnh,
Khen chê giận ghét lẽ đời thường.
Ngọc Hoàng Thượng Đế - TNHT

  Ðừng lòng kiêu hãnh cậy mình tài,
Nên nhớ chữ tài cận chữ tai;
Tài ít đức nhiều còn hữu dụng,
Tài suông thiếu đức họa nay mai.
Ngọc Hoàng Thượng Đế - TNHT

Chữ hiếu phải lo vẹn phận người,
Sanh thành đạo trọng há đâu chơi;
Buông trôi ví chẳng tròn nhơn đạo,
Còn có mong chi đến Ðạo Trời.
Ngọc Hoàng Thượng Đế - TNHT

Mãi thù oán, trả vay không dứt,
Cảnh được thua như đợt sóng lùa;
Bại làm giặc, thắng làm vua,
Nghĩa nhân quý trọng, hơn thua lẽ thường.
Đức Trần Hưng Đạo – TTTH 4

Thời chưa tới bôn ba thêm hại,
Thời đã qua kéo lại ích chi;
Gặp thời mau khá thi vi,
Trời che đất chở việc chi cũng thành.
Bảo Pháp Chơn Quân Thanh Long – TTTH 4
  
Vui sướng chi cuộc cờ thắng bại,
Lợi bên này mà hại bên kia;
Khổ vì mâu thuẫn rẽ chia,
Ghét ganh ích kỷ, đoạn lìa tình thương.
Quảng Đức Chơn Tiên – TTTH 4

Những câu danh ngôn hay và ý nghĩa




Những câu danh ngôn hay và ý nghĩa


Con đi đâu, con về đâu?
Cuộc đời của mẹ là câu trả lời!
Khuyết danh

Lắng lòng nhẫn một chút thôi,
Để nghe Trời đất mở lời yêu thương.
Khuyết danh

Không biết không phải là xấu hổ,
không muốn biết mới đáng xấu hổ.
Ngạn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ.

Học những điều mình chưa biết,
Dù bất kỳ lúc nào cũng không bao giờ thừa.
Socrates 

Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha,
Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ.
Khuyết danh.

Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ,
Gian khổ một đời không ai gánh nặng bằng cha.
Khuyết danh.

Có 3 thứ ngu dốt: không biết những gì mình cần biết,
không rành những gì mình biết và biết những gì mình không cần biết.
La Rochefoucauld

Ơn ai một chút, chớ quên,
Oán ai một chút, cất bên dạ này.
Ca dao

Cuộc đời sóng gió nuôi ta lớn,
Bao lần thất bại dạy ta khôn.
Khuyết danh

Lấy của che thân,
Không ai lấy thân che của.
Tục ngữ

Đừng để đến ngày mai những việc anh có thể làm hôm nay.
Lord Chesterfield

Trễ hẹn là một hành vi thiếu trung thực rõ rệt.
Bạn có thể là đang vay tiền lẫn thời gian của người ta đấy.
Horace Mann

Lời nói như tên, không nên bắn bậy
Hễ lọt vào tai ai thì khó mà lấy ra được
Khuyết Danh




Một câu nhịn bằng chín câu lành!

 Khuyết Danh

Ngọn đuốc soi lòng




NGỌN ĐUỐC SOI LÒNG
 (Định Tường) Tuất thời 20 tháng 9 Đinh Mùi (23-10-1967)

THI:
Một cành sen trắng trổ thêm hoa,
Ngào ngạt nhờ xong mối Đạo nhà;
Chung sức gieo trồng cây hạnh đức,
Được về Tiên cảnh thoát trầm kha.
      BẠCH LIÊN TIÊN NƯƠNG, Tệ Tỷ chào chư Thiên mạng, chào chư liệt vị tam ban. Chị mừng các em nữ phái.
      Cũng nhờ sớm biết lo tu và nhục tử biết lập công bồi đức mà Tệ Tỷ được về ngôi xưa vị cũ, hằng vui cảnh thiên nhiên với hàng Tiên Nữ, sớm tiêu dao miền Bồng Đảo, chiều dạo cảnh chốn lâm tòng, ngàn năm muôn tuổi không già không bệnh, không chết, không sanh. Tuy nhiên, Tệ Tỷ cũng hằng theo gần gũi các Đấng Giáo Chủ để học hỏi tu luyện thêm hơn, để có đủ huyền vi diệu pháp giúp thế độ người.
      Được vâng lịnh báo đàn, nên Tệ Tỷ vội vã đôi lời nhắc nhở chị em cố gắng tu hành để sớm giải vòng oan khiên nghiệp chướng.
      Chư liệt vị và các em thành tâm tiếp điển Đức Quan Âm Bồ Tát giáng đàn, Tệ Tỷ xin chào chung, hẹn ngày tái ngộ, thăng...
     
Tiếp điển:

THI:
Tuy về cõi thượng chốn thanh vân,
Nghĩ lại mà thương kẻ thế trần;
Nghiệp chướng còn mang mang mểnh mãi.
Nên đành lẩn quẩn bánh xe luân.

      QUAN-ÂM BỒ-TÁT, vâng lệnh ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU, thừa hành sắc lệnh TÒA TAM GIÁO, Bần Đạo giáng đàn để mấy dòng đạo lý cho chư hiền muội gọi là khích lệ và ban khen công trình khó nhọc đeo đuổi Đạo Trời để tìm đường giải khổ. Miễn lễ đàn trung an tọa đẳng đẳng.
      Chư hiền muội! Phàm trần Phật cảnh tuy có cách nhau, nhưng với những lòng thành kính dạ hoài mong thì sự thông công hai miền cũng không phải cách. Hiện nay chỉ còn xa cách là bởi chư hiền muội còn mang nhục thể, nhục nhãn, nhục nhĩ cũng như phàm tâm, kèm theo đó, những bản ngã, những thất tình lục dục còn chế ngự rào đón bản tâm linh. Cho nên, kẻ Tiên người tục nhiều khi muốn giúp đỡ dìu dẫn nhau, phải gặp mọi điều cách trở.
      Cũng còn phúc đức trong Tam-Kỳ Phổ-Độ đã có phương tiện thông công là huyền cơ diệu bút, mà Bần Đạo và các Đấng Thiêng Liêng có nhiều dịp nhủ khuyên dạy bảo, dắt lối đưa đường cho chư hiền muội nương theo đó thức tỉnh tâm linh, tô bồi âm chất.

THI:
Bởi nhiều nghiệp chướng mãi đeo đai,
Bên bước tu hành lắm trở gay;
Con cái cửa nhà lo thiếu đủ,
Tạc thù đây đó bận liền tay.

HỰU:
Tay yếu chân mềm cố đảm đương,
Sao cho hạnh phúc chốn gia đường;
Còn đâu rỗi rãi lo Thiên Đạo,
Để kịp ngày kia dự thí trường.

HỰU:
Trường thi công quả chọn nhơn hiền,
Cho kẻ tu hành hữu huệ duyên;
Chẳng luận nữ nam Âu Mỹ Á,
Ai nhiều huệ phúc sẽ thành Tiên.

HỰU:
Tiên tục hai đường dẫu cách xa,
Có tâm thiện nguyện kế bên mà;
Dắt dìu cho thoát bao tai ách,
Phủi nợ hồng trần cõi giới ba.

THI:
Gíac ngộ tầm Tiên học Đạo mầu,
Đạo mầu nào phải cách xa đâu;
Xa đâu phải ở miền Tây Vức,
Tây Vức nơi tâm kẻ khẩn cầu.

THI BÀI:
Thương kẻ tục dãi dầu sớm tối,
Chốn hồng trần không lối thoát ra;
Thế gian những tưởng là nhà,
Lo xây kiên cố ở mà muôn năm.
Tình mẫu tử thậm thâm hoạn dưỡng,
Nghĩa phu thê hạnh hưởng trọn đời;
Vì chưng muốn sống yên nơi,
Trăm phương ngàn kế cho đời đẹp xinh.
Dựng sự nghiệp cho mình sự nghiệp,
Cho các con kế tiếp đời sau;
Trong khi thâu góp của vào,
Vô tình gây tạo biết bao lỗi lầm.
Người có nghĩa thì làm nghiệp thiện,
Xây cơ đồ tùy tiện tài năng;
Chớ không nỡ dạ làm xằng,
Cho thân dư dả cho bằng thế nhân.
Thà nghèo túng còn hơn trái đạo,
Thà đói no hoài bảo nghĩa nhân;
Mặc ai sớm Sở chiều Tần,
Mặc ai buôn tướng bán quân không màng.
Cũng có kẻ gây oan nghiệp chướng,
Miễn cho đời hạnh hưởng ấm no;
Bày ra mưu lược lắm trò,
Bất nhân phú túc của kho dẫy đầy.
Đâu có biết họa bay tai gởi,
Đâu có tường ác lợi ác vương;
Thế nên lừa đảo khôn lường,
Tới chừng gặp quỉ vô thường mới hay.
Đến chừng ấy trở tay không kịp,
Bởi vì chưng tạo nghiệp dẫy đầy;
Ác lai ác báo đến ngày,
Tội xưa ta tạo, ngày nay ta đền.
Bánh xe luân xuống lên chuyển tiếp,
Tử rồi sanh theo nghiệp theo duyên;
Quay trong cái bánh dây chuyền,
Bao giờ trả hết oan khiên mới rồi.
Sanh cõi tạm ai ơi khá hiểu,
Ráng mà tu tích thiểu thành đa;
Thế gian đâu phải thật nhà,
Cảnh Tiên mới thiệt Bửu Tòa Thiêng Liêng.
Phận làm mẹ tu hiền vui vẻ,
Làm gương cho con trẻ noi theo;
Đời rằng: bèo lại sanh bèo,
Ổi đâu trổ trái dưa leo bao giờ.
Con còn dại còn khờ trong trắng,
Tập tánh cho chúng đặng hiền lương;
Ban cho chúng nó tình thương,
Chọn người bạn tốt trên đường tiến thân.
Bà mẹ ấy tinh thần trụ cốt,
Là hiền thê rường cột gia trung;
Chồng xưa nổi tiếng anh hùng,
Cũng do hiền phụ đúc un tinh thần.
Xưa Mạnh Mẫu cầm chân Mạnh Tử,
Theo học đường trung thứ lễ nghi;
Ngày nay tiết nghĩa còn ghi,
Nho Tông Khổng Mạnh Đông Tây kính nhường.
Đó là tu cang thường gia đạo,
Đó là tu hoài bảo nghĩa nhân;
Đó là cơ bản tinh thần,
Đạo người làm vẹn ở tầng thứ ba.
Dày công quả bước qua Thiên Đạo,
Họa theo gương Tam Bảo Thánh Hiền;
Làm theo kinh sách chỉ truyền,
Hễ làm cho đúng thành Tiên mấy hồi.
Tu phải cố trau dồi tâm tánh,
Phải trước tiên quyết định tu chi;
Tụng kinh là để làm gì?
Ăn chay niệm Phật ích chi cho mình.
Không phải Phật thiếu kinh thường dụng,
Bảo chúng sanh đem tụng Phật nghe;
Tụng kinh như thể nói vè,
Nghĩa sâu không biết, lối lề không thông.
Chẳng khác nào nghe ong vò vẽ,
Tiếng nhỏ to thỏ thẻ vu vu;
Tụng nhiều mới gọi là tu,
Đọc nhiều cho Phật công phu mới nhiều.
Đó là tu theo chiều mê tín,
Biết bao giờ tâm Thánh mở mang;
Sách Kinh là đuốc rọi đàng,
Dạy đời học Đạo hành tàng thể nao.
Vì lẽ đó cùng nhau ráng hiểu,
Đọc Kinh coi Phật biểu làm chi;
Ráng làm ăn ở cho y,
Tánh tình cùng những hành vi Phật Trời.
Đọc Kinh rồi hiểu lời Phật dạy,
Thì chớ làm trái lại sách kinh,
Nếu khi mình đã thông minh,
Lão thông Đạo Pháp xem kinh làm gì?
Ăn chay để làm chi vậy hử?
Tập ăn chay để khử lòng trần;
Bao nhiêu ái ố tham sân,
Bao nhiêu thói xấu rửa lần cho thanh.
Ăn chay để tập tành nhân dõng,
Loài vật kia cũng sống như mình;
Lẽ nào đành đoạn sát sinh,
Rượu ngon thịt béo tiệc tùng sớm trưa.
Đó là lối muối dưa tụng niệm,
Tập tánh hiền cho tiệm-tiến lên;
Lòng thương nhân hậu làm nền,
Gợi đèn minh triết cho bền quang minh.
Còn cúng lạy niệm danh chư Phật,
Ở chùa chiền tịnh thất thường khi;
Tứ thời bái sám làm chi?
Niệm danh các Đấng làm gì nữa đây?
Có người niệm xin Thầy cùng Phật,
Cho Thánh Đường Tịnh Thất bình yên;
Đó đây trên dưới chùa chiền,
Đừng cho phá hoại giữ yên mãi hoài.
Cho gia đạo trong ngoài an bỉ,
Cho đàn con ứng thí thủ khoa;
Và cho lớn bé trẻ già,
Làm ăn thạnh mậu cửa nhà sum sê.
Tôi sẽ nguyện đem về cho Phật,
Hoa quả trà chồng chất đầy bàn;
Hương thơm trầm tốt trà nhang,
Rượu lê trà cúc bỉ bàng thiếu chi.
Xin chư Phật từ bi gia hộ,
Cho chồng tôi thi đỗ quan cao;
Để cầm vận mạng phong trào,
Đi đâu dân chúng chạy theo rần rần.
Đó là tu theo phần mê tín,
Phật Tiên đâu ưa nịnh ưa dua;
Mà đem lễ vật đến chùa,
Đặt điều kiện để bán mua Phật Trời.
Cúng lạy để nghỉ ngơi tâm trí,
Để tịnh lòng tịnh ý tịnh ngôn;
Khép mình dưới bệ Chí-Tôn,
Trau dồi tính nết luyện hồn tịnh thanh.
Cúng lạy để tâm lành phát hiện,
Nhìn Phật Tiên trên điện hiền hòa;
Khởi lòng bác ái vị tha,
Nhìn chung Thượng-Đế là cha linh hồn.
Nhìn lên trái càn khôn thường trụ,
Nhật nguyệt cùng tinh tú bao quanh:
Càn khôn vũ trụ vận hành,
Còn mình là một chúng sanh phàm trần.
Mình cũng có pháp thân nội ngoại,
Cũng như Trời là đại linh quang;
Trên thì Thiên Thượng Thánh Hoàng,
Dưới mình thiên hạ trần gian điển hình.
Trời thì có hành tinh nhật nguyệt,
Có âm dương hàn nhiệt nóng khô;
Con người là tiểu qui mô,
Cũng đều có bản hà đồ lạc thơ.
Đó là máy huyền cơ Tạo Vật,
Người với Trời thể chất song song;
Nếu mình bền chí gia công,
Tu thân luyện mạng cũng mong thành Trời.
Phải nhiều kiếp luân hồi tiến hóa,
Đi từ từ chỗ đọa đến thăng;
Con người là tiểu linh quang,
Từ trong khoáng sản ẩn tàng cỏ cây.
Đến cầm thú ngô ngây khờ dại,
Nhiều kiếp rồi biến cải linh hồn;
Tiến lên đến bậc vi nhơn,
Có luôn thất phách tam hồn qui nguyên.
Người tu được thành Tiên tác Phật,
Khổ công tu chẳng mất ai ơi;
Tu đi một vốn mười lời,
Nhà băng thượng giới Cha Trời dành cho.
Chớ đừng có bo bo ích kỷ;
Lo tóm thâu của quí để dành;
Một giờ lửa đạn chiến tranh,
Của nhà sự nghiệp tan tành còn chi.
Đó là nghĩa những khi cúng lạy,
Niệm Phật Tiên van vái Thánh Thần;
Phải tìm hiểu nghĩa chánh chân,
Mới bù công khó tu thân một đời.
Đêm Thu để ít lời đại khái,
Cho chị em nữ phái ghi lòng;
Gọi là tưởng thưởng cái công,
Đã nhiều năm tháng trọn lòng kỉnh tin.
Tu phải hiểu đức tin chánh tín,
Mỗi việc hành xét định minh quang;
Chớ nghe tiếng uyển tiếng đàn,
Yếu lòng non dạ tin càng mà nguy.
Đời còn lắm loạn ly khổ sở,
Đạo nơi nào cứ ở đó đi;
Đừng lòng chạy đó chạy đây,
Bị ma dẫn dắt lạc Thầy Chí Tôn.
Rồi phiền trách sao Ơn Trên chẳng,
Theo hộ trì cho được yên lành;
Mấy mươi năm đã tu hành,
Một giờ mềm yếu tan tành còn đâu.
Lời dặn dò ghi sâu gìn giữ,
Cho chị em phái nữ rán tu;
Tu không như phải người mù,
Ép thân ép xác dập đầu cầu ơn.
Lời dặn dò keo sơn gắn bó,
Nhắn nhủ nhau đây đó được tàng;
Ban ơn toàn thể trung đàn,
Ráng lo hành đạo, cảnh nhàn đây lui.
Thăng.