Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện Thiền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện Thiền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Giai Thoại Bát Phong Xuy Bất Động

“Bát phong xuy bất động” (tám gió thổi không động) là một giai thoại vui, thâm thúy và tràn đầy thiền vị về mối thâm giao giữa thi hào Tô Đông Pha (1037-1101) và Thiền sư Phật Ấn (1032-1098). Chuyện kể rằng, một hôm Tô Đông Pha sáng tác được một bài thơ và ông rất hài lòng, bèn cho người đem tặng Thiền sư Phật Ấn lúc bấy giờ đang ở chùa Kim Sơn.
Nguyên văn bài thơ của Tô Đông Pha như sau:
Khể thủ thiên trung thiên
Hào quang chiếu đại thiên
Bát phong xuy bất động
Đoan tọa tử kim liên.
Tạm dịch là:
Đảnh lễ Bậc Giác ngộ (thiên trung thiên tức là Phật, Bậc Giác ngộ)
Hào quang chiếu vũ trụ
Tám gió thổi chẳng động
Ngồi vững tòa sen vàng.
Phật Ấn xem qua bài thơ xưng tán cảnh giới giải thoát của Bậc Giác ngộ, thấy chữ nghĩa và ý tứ rất hay nhưng biết quá rõ bạn mình nhờ văn hay, chữ tốt, dùng tâm thức bén nhạy để làm thơ chứ không phải là bậc thượng sĩ thâm nhập nghĩa lý sâu xa của Phật pháp, đạt đến Thượng thừa “Tám gió thổi không động” nên thay vì khen ngợi ngài liền cầm bút phê vào hai chữ “phóng thí” (đánh rắm – hạ phong) và bảo gia nhân đem về trình lại cho Đông Pha. Quả như điều mà Phật Ấn đã dự đoán. Đông Pha sau khi xem lời nhận xét của Phật Ấn xong liền đùng đùng nổi giận, lập tức bươn bả vượt sông sang chùa Kim Sơn để bắt tội Phật Ấn.
Gặp nhau ở bến sông, Đông Pha liền lớn tiếng trách: Bài thơ của tôi sai sót ở chỗ nào mà ngài lại phê vào hai chữ “đánh rắm” kia. Thiền sư Phật Ấn liền cười xuề: Ông nói “Tám gió thổi không động” mà chỉ một cái “đánh rắm” thôi đã bay sang sông rồi. Đến đây, Đông Pha mới chợt hiểu ra mình chưa bất động.
Về bát phong hay bát thế phong, nghĩa là tám ngọn gió đời, tám pháp ở thế gian hay làm loạn động, mê hoặc lòng người. Theo Từ điển Phật học Huệ Quang, tập I, tr.414, tám ngọn gió ấy gồm:
1 – Lợi (lợi lộc),
2 – Suy (hao tổn),
3 – Hủy (chê bai chỉ trích),
4 – Dự (gián tiếp khen ngợi người), 
5 – Xưng (trực tiếp ca tụng người), 
6 – Cơ (dựng sự việc giả để nói xấu người), 
7 – Khổ (gặp chướng duyên nghịch cảnh, thân tâm bị bức bách, khổ não), 
8 – Lạc (gặp được duyên tốt, thuận cảnh, thân tâm vui vẻ, hân hoan). 
Con người thường dao động, thể hiện cảm xúc vui buồn rõ rệt trước những hoàn cảnh thuận nghịch của cuộc sống. Khi được lợi (lợi) thì vui mừng, hớn hở ngược lại khi bị mất mát, tổn hại (suy) thì buồn bã, tiếc nuối. Khi bị chê bai, chỉ trích (hủy) cảm thấy rất khó chịu nhưng khi được khen ngợi (dự) thì vui thích, hài lòng. Khi được mọi người xưng tán, tung hô (xưng) thì hả hê, ngất ngây hạnh phúc ngược lại khi bị chế giễu, vu khống (cơ) thì hậm hực, bức xúc không yên. Khi những điều không như ý ập đến (khổ) thì đau khổ, thở than và ngược lại khi mọi việc đều thuận lợi như ý (lạc) thì mừng rỡ, vui vẻ.
Cuộc sống của con người chẳng mấy khi được bình an, vì luôn bị tám ngọn gió này chi phối. Do vậy, muốn thiết lập hạnh phúc và an vui trong đời sống chúng ta phải giữ vững tâm ý khi tiếp xúc, đối điện với tám ngọn gió này. Đại thừa vô sanh phương tiện môn (Đại chính 85, 1247 hạ) chỉ rõ: “Nếu thân tâm vắng lặng an ổn thì tám gió thổi không động”. Cũng như chuyện “gió động hay phướn động”, thì ra tâm người động chứ gió và phướn chỉ là chuyện bên ngoài. Những dao động của tâm thức như là sóng nhưng bên dưới sự ầm ào đó là yên lặng. Phải quán sát liên tục để thấy rõ bản chất của tám ngọn gió đời ấy tuy thường xuyên thổi đến nhưng thực chất chỉ là ở bên ngoài, bởi vì mình đeo bám, bị dính mắc nên mới bị chúng chi phối. Mặt khác, bát phong vốn vô thường nên có đó rồi lại không đó. Vì thế, được hay mất, khen hay chê, đau khổ hay vui sướng cũng đều tương đối, không có gì trường cửu.Nhờ thường xuyên quán sát với trí tuệ như thế nên khi được cũng không quá mừng, lúc mất cũng không quá buồn, được khen không kiêu, bị chê không giận v.v… thì có thể chế ngự được bát phong. Sống vững chãi và thảnh thơi trong vô vàn biến động thuận nghịch của cuộc đời là điều có thể thực hiện được nhờ thực tập và thành tựu tuệ quán về ba sự thật Vô thường – Khổ – Vô ngã của vạn pháp.
Nguồn: phatgiaoaluoi.com

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Chiếc gương và cửa sổ


Chiếc gương và cửa sổ

Có một phú ông tên Hạo Tường luôn cảm thấy trong cuộc sống của mình thiếu thốn một cái gì đó, nên ông quyết định lên đường tìm Thiền sư để tham hỏi.
Khi gặp Thiền sư: “Thưa ngài! Tôi có rất nhiều tiền, muốn thứ gì thì có thứ đó nhưng lại không cảm thấy vui và hạnh phúc được?”.
Vị thiền sư mời ông ta đứng trước một cửa sổ được làm bằng kính và hỏi ông thấy được những gì qua ô cửa kính đó. “Dạ, con thấy những đoàn người tất bật, hối hả qua lại trên những con đường, có khi bằng phẳng, có khi gập gềnh, khúc khuỷu nữa”.
Thiền sư chẳng nói gì và mời ông ta đứng trước một chiếc gương soi, hỏi ông thấy gì qua chiếc gương đó. “Con thấy chính mình…”
Thiền sư ôn tồn nói: “Chiếc gương được làm bằng kính, cửa sổ cũng được làm bằng kính, nhưng cửa sổ thì trong suốt nên có thể thấy được bên ngoài, có thể nhìn được người, cảnh vật xung quanh ta nhưng chiếc gương thì phủ một lớp sơn phía sau hoặc một tấm gỗ nên chỉ có thể nhìn được mình mà thôi, khi trong con người mình có thể gỡ bỏ đi lớp sơn hay tấm gỗ kia thì lúc đó con sẽ nhìn thấy người khác, lúc con nhìn thấy người khác con sẽ cảm thấy hạnh phúc với những gì đang có”.
Lời bạt: Bạn có là người hạnh phúc không? Hay là người luôn bận rộn với cuộc sống hiện đại này? Hoặc ta cảm nhận cuộc sống mình mỗi ngày một vui hơn? Mỗi ngày chúng ta chạy danh cầu lợi. Ở đâu đó, chúng ta đã có một góc của sự bình yên và hạnh phúc nhưng chưa bao giờ thay đổi góc độ nhìn để dung nạp, tha thứ cho người khác. Chỉ khi nào ta hiểu được hai chữ “dừng bước”. Ta đứng lại để tiếp nhận người khác đang tồn tại, họ hiện hữu trong sự tương quan của ta, ta dừng lại để nhìn, để hiểu và để thương. Khi thương được mọi người ta sẽ thương chính mình.
Truc Chi sưu tầm

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

Vò nước suối


VÒ NƯỚC SUỐI

Đây là chuyện tôi nghe:
Hôm ấy đạo sư có việc ở một làng quê hẻo lánh và đưa đệ tử đi theo. Cả hai đều cuốc bộ. Dọc đường, đạo sư bảo đệ tử tạm nghỉ chân dưới một tàn cây xanh um, như cái dù lớn che nắng trưa chói chang. Cách đó xa xa là một dòng suối nhỏ chắn ngang. Đạo sư bảo:
- Thầy khát. Nhờ con lấy giùm thầy chút nước.
Đệ tử mau mắn xách vò, thoăn thoắt bước tới con suối. Đến nơi, anh tần ngần đứng nhìn dòng nước, rồi nhìn sang bên bờ kia. Bắt gặp một đàn bò còn ướt lông, hiểu ra cớ sự, anh quay lại gặp sư phụ, bộc bạch:
- Thưa thầy, người ta mới vừa dắt bò qua suối. Nước bị quậy lên đục ngầu nên con không dám…
Đạo sư ôn tồn:
- Được con. Vậy mình chờ một chút.
Khoảng mười lăm phút sau, đạo sư bảo:
- Lấy nước đi con!
Đệ tử sốt sắng xách vò trở lại bờ suối. Anh thấy nước bớt đục hơn, nhưng vẫn chưa thể dùng được. Lập tức quay về chỗ sư phụ, anh áy náy nói:
- Thưa thầy, cũng chưa uống được đâu ạ.
Đạo sư mỉm cười:
- Không sao, con. Mình chờ thêm chút nữa.
Rồi ngài xếp bằng, hai bàn tay để lên lòng, sửa dáng cho thẳng lưng, lim dim đôi mắt, yên lặng dưỡng thần dưới bóng râm của tàn cây.

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

Chuyện của dòng sông


Chuyện của dòng sông


Có một dòng sông rất đẹp chảy qua núi đồi và đồng cỏ xanh tươi. Dòng sông ca hát nhảy nhót tung tăng từ trên núi xuống đồng bằng. Xuống đồng bằng, dòng sông chảy chậm lại, mặt nước trong xanh êm mát. Lúc ấy dòng sông còn trẻ lắm, và dòng sông muốn chảy mau ra biển cả. Dòng sông càng lớn càng đẹp ra, lượn khúc yêu kiều ven đồi và bờ lúa.
Một ngày kia dòng sông chú ý đến sự có mặt của những đám mây trong nước. Mây đủ mầu sắc, hình thể, đẹp quá chừng, nên suốt ngày dòng sông cứ miệt mài chạy đuổi theo những đám mây, mong bắt được một đám mây cho riêng mình. Nhưng mây cứ lơ lững tầng cao khó mà bắt được, nhất là mây cứ thay hình đổi dạng không ngừng. Vì mây vô thường như vậy nên dòng sông rất đau khổ. Chạy đuổi bắt theo mây thì vui nhưng sau đó dòng sông đầy thất vọng, u sầu và tức giận.
Một ngày kia một cơn gió lớn đi qua, quét sạch mây trên trời. Bầu trời trở nên quang đãng không còn một bóng mây, dòng sông não nề tuyệt vọng, không còn muốn sống nữa. Không còn mây để chạy theo ta sống để làm gì?” Tối hôm đó, lần đầu tiên trong đời, dòng sông quay trở về tiếp xúc với chính mình. Lâu nay dòng sông chỉ đuổi theo những cái bên ngoài mà không bao giờ thấy được cái chính mình. Tối hôm đó, lần đầu tiên dòng sông được nghe tiếng mình khóc, âm thanh sóng vỗ vào bờ. Dòng sông lắng nghe tiếng của mình và khám phá ra một điều rất quan trọng. Dòng sông nhận ra rằng cái mà lâu nay mình theo đuổi đã nằm sẵn trong lòng mình. Tưởng mây là gì, đâu ngờ mây chỉ là nước. Mây sinh ra từ nước và bây giờ mây trở thành nước. Và dòng sông tự bao giờ cũng vẫn là nước như một đám mây.
Sáng hôm sau khi mặt trời lên cao, dòng sông khám phá ra thêm một điều thật đẹp – đây là lần đầu tiên dòng sông thấy được bầu trời xanh thẳm. Lâu nay dòng sông chỉ chú ý đến mây, không chú ý đến bầu trời. Bây giờ dòng sông mới biết rằng bầu trời là quê hương của các đám mây. Mây luôn luôn thay đổi, nhưng bầu trời không bao giờ thay đổi. Và bầu trời cao đã có mặt trong dòng sông tự thuở nào. Cái thấy này đem lại cho dòng sông một nguồn an lạc lớn. Dòng sông hiểu rằng bao giờ bầu trời xanh còn có mặt, niềm an lạc của dòng sông sẽ mãi mãi vững bền.
Trưa hôm đó, các đám mây lại lục tục trở về nhưng dòng sông không còn tha thiết muốn đuổi bắt nữa. Đám mây nào đi qua, dòng sông cũng thấy đẹp và cũng vẫy tay chào. Dòng sông không còn thấy buồn tủi hay lưu luyến. Bởi đám mây nào cũng là một dòng sông, chẳng còn phải chọn lựa. Một niềm an vui hài hòa đã kết hợp mây và sông. Tối hôm đó một điều thật tuyệt diệu đã xảy ra. Dòng sông mở rộng lòng đón mặt trăng rằm – mặt nguyệt tròn vành vạnh và sáng rực rỡ như một viên bảo châu trong dòng nước trong vắt. Có một bài kệ miêu tả hình ảnh đẹp đó: “Bồ tát Thanh Lương nguyệt Du ư tất cảnh không Chúng sanh tâm cấu tận Bồ đề ảnh hiện trung.” (Bụt là vầng trăng mát đi ngang trời thái không hồ tâm chúng sanh lặng trăng hiện bóng trong ngần.)
Dòng sông trong vắt đã làm hiện rõ bóng trăng và trăng đã cùng mây nước dắt tay nhau đi thiền hành về biển cả. Chẳng có gì phải chạy đuổi theo. Chỉ cần trở về với mình, trở về với hơi thở và nụ cười, trở về nơi mình ở, nơi có thông reo, chim hót và nắng ban mai, còn nơi nào đẹp hơn nữa?
Nguồn: phuocdien.chuaphat.com

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2011

Chiếc Bè


Chiếc bè

Có người kia đi đến một vùng nước rộng, thấy mé mình đứng rất nguy hiểm và ghê sợ, còn mé bên kia thì yên ổn và hiền lành.
Muốn qua đó thì lại không cầu. Anh ta bèn nghĩ cách bẻ cây làm tạm một chiếc bè để vượt sông. Sau khi đến mé bên kia, anh ta nghĩ nhờ chiếc bè nầy mà qua được bên nầy, nên anh ta luôn luôn đội chiếc bè trên đầu để giữ gìn nó.
- Hỡi các tì khưu, người ấy có đối xử đúng với chiếc bè của anh ta không?
- Thưa Thế Tôn không ạ!
- Vậy thì người ấy đối xử chiếc bè như thế nào cho phải lẻ? Phải chăng nhờ nó mà ta qua được mé bên kia, bây giờ ta không còn cần dùng đến nó nữa thì hãy để yên nó bên mé sông hoặc thả trôi theo dòng nước mà đừng lưu luyến gì đến nó nữa. Như thế mới đúng lẽ! Giáo lý của Ta cũng chẳng khác gì chiếc bè trên đây. Như vậy rồi các Ngươi cũng phải vứt bỏ giáo lý ấy đi khi các Ngươi đã giác ngộ... Cả những Thiện Ác nữa ...cũng cần phải vứt bỏ hết.
Nguồn: Vườn Thiền

Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

Hai nhà sư


Hai nhà sư

Đây là một câu chuyện nhà Thiền khá sâu sắc! 

Hai nhà sư mang theo phương trượng, pháp chỉ lên đường đi làm một việc. Một người pháp danh Liễu Không, một người pháp danh Liễu Trần. Hai người phăm phăm bước đi trên con đường dài. Trên đường có rất nhiều phong cảnh đẹp. Hai người nhìn ngắm, đều tấm tắc khen. Liễu Không sung sướng đến mức dường như không chịu nổi, nhưng đấy là hồng trần, không phải thế giới của nhà sư.
Liễu Trần là sư huynh, sư huynh thấy phong cảnh đẹp quá cũng dường như không chịu nổi. Nhà sư nghĩ thầm: "Sư đệ nhỏ tuổi hơn ta, hẳn là thèm muốn hơn ta". Liễu Trần liền bảo Liễu Không:
- Sư đệ, huynh kể cho đệ nghe một câu chuyện nhé! 


Liễu Không nói:
- Hay lắm, đệ đang phiền muộn đây!

Liễu Trần bảo:
- Câu chuyện này do sư phụ kể cho huynh nghe đấy!

Liễu Không ngước mắt nhìn sư huynh, mắt sư huynh hiền dịu và sư huynh kể:
- Có một hoà thượng ngồi thiền nhưng lạ thay hễ ông ngồi xuống vào dụng công tham thiền thì phát hiện có một con sư tử rất hung dữ đến trước mặt ông nhảy nhót. Hòa thượng muốn tránh nó nhưng làm cách nào cũng không tránh được. Càng ra sức tránh, nó nhảy càng điên cuồng. Hòa thượng vừa sợ vừa hết sức vui mừng vì sư tử là vật cưỡi của Văn Thù Bồ Tát. Văn Thù lại là hóa thân của trí tuệ! Hòa thượng nghĩ: Có lẽ do ông tu hành tốt, tu luyện đã đến trình độ nhất định nên Văn Thù Bồ Tát mới báo ngầm cho biết và hiển linh trước mặt ông. Hòa thượng kể điều phát hiện ấy cho sư phụ nghe. 


Sư phụ là vị cao tăng đã đắc đạo, nghe xong cao tăng không nói gì chỉ đưa cho hòa thượng một con dao. Hòa thượng không dám nhận, sư phụ bảo:
- Văn Thù là Bồ Tát, con vật ông cưỡi không thể là vật phàm trần, nhất định đã thành thiêng. Nếu con dùng dao này giết được sư tử thì chứng tỏ con sư tử ấy là ma biến thành; nếu giết mà nó không chết thì con sư tử ấy mới là vật cưỡi của Văn Thù. Con hãy thử xem thế nào! 


Tin lời sư phụ, hòa thượng lại ngồi thiền và con sư tử đó lại đến. Hòa thượng càng dụng công tham thiền thì con sư tử nhảy càng hăng. Thấy sư tử nhảy như quên mọi sự, hòa thượng thầm nghĩ thời cơ đã đến, liền rút dao ra đâm phập vào sư tử...". 

Kể đến đây, Liễu Trần ngừng lời hỏi sư đệ:
- Đệ thử nói lưỡi dao đó đâm vào đâu nào? 


Liễu Không đáp:
- Có lẽ đâm vào đùi hòa thượng tọa thiền. 


Liễu Trần nói:
- Đâm vào người sư tử chứ! - Tiếp đó lại hỏi Liễu Không:
- Sao đệ lại nghĩ dao đâm vào đùi hòa thượng tọa thiền? 


Liễu Không đáp:
- Theo đệ hiểu, sư tử là hư không, đùi hòa thượng mới là thật.

Liễu Trần nín lặng. Liễu Không hỏi:
- Đệ nói không đúng à? 


Liễu Trần đáp:
- Sư phụ chỉ kể đến đấy để cho huynh nghĩ. Đến bây giờ huynh vẫn chưa giác ngộ ra. 


Hai người không nói gì nữa, lẳng lặng bước đi.

Phía trước mặt hiện ra một con sông rất rộng, dễ đến ba bốn trăm thước, trông thật mênh mông, nhưng nước lại nông và chảy nhè nhẹ, cá bơi tung tăng. Một cô gái đứng trên bờ, cô chỉ chừng đôi tám, đi đôi giày thêu màu đỏ, mặc quần ống thụng màu xanh biếc, còn cái áo thì đỏ như lửa. Cô có bím tóc thật dài, ngọn tóc tinh nghịch đuổi theo gió. 

Xem ra cô gái muốn qua sông sang bờ bên kia. Bờ bên ấy có bao nhiêu là hoa, hoa đỏ, hoa vàng, hoa xanh, nhiều và đẹp hơn bờ bên này. Nhìn đôi giày của cô thì biết cô sợ nước. Giày của cô rất mới, mũi giày thêu mấy đóa hoa đào, rất tươi như đang đua nhau nở. Cô gái đành đứng trên bờ mà nhìn sang cảnh rực rỡ muôn màu ở bờ bên kia, tay vò chéo áo. 
Liễu Trần nhìn thấy thế chỉ thở dài, sau đó niệm A Di Đà Phật. Liễu Không chẳng nói gì, chỉ nhìn cô gái. 

Liễu Trần nhìn sư đệ, muốn bảo cho sư đệ nhớ mình là người xuất gia, mọi thứ trên thế gian đều hư không, cả đến đất, nước, lửa, gió làm nên thế giới cũng đều hư không. 

Nhưng Liễu Không chẳng dừng chân, đi thẳng đến trước mặt cô gái, chắp tay niệm A Di Đà Phật, sau đó cúi lưng cõng cô qua sông. Cô gái rất ngạc nhiên song cũng rất vui mừng. Cô không khách sáo nằm phục trên lưng Liễu Không. 

Liễu Không lội xuống nước. Nhìn ngọn cỏ xanh co mình lại trên bờ, cô gái biết nước lạnh như dao cắt. Liễu Không liếc nhìn nước, nước rất trong, sóng lăn tăn gợn. Cá lội tung tăng làm sóng cả nước. Liễu Không cõng cô gái lội qua sông mà đi, nước rẽ rào rào. Liễu Trần nhìn theo lưng Liễu Không, chắp tay niệm A Di Đà Phật rất thành kính, rất thành kính... 
Cuối cùng đã tới bờ bên kia, Liễu Không đặt cô gái xuống.

Cô gái nói:
- Cảm ơn sư phụ! 


Liễu Không đáp lại:
- A Di Đà Phật! 


Cô gái tưởng nhà sư còn chưa nghe rõ, nhắc lại:
- Cảm ơn sư phụ! 


Liễu Không lại niệm A Di Đà Phật rồi tiếp tục đi. Liễu Trần đi theo sau, nghĩ: "Sư đệ ơi, lục căn của đệ chưa dứt hẳn, người xuất gia làm sao còn vướng bụi trần? Chao ôi, đệ tu hành như thế thì đắc đạo sao được, thành Phật sao được?".

Liễu Không chỉ nhìn về phía trước, mải miết đi. Liễu Không đổ mồ hôi đầy đầu. Liễu Trần nghĩ: "Sư đệ, đệ chột dạ rồi phải không?". Nghĩ thế rồi Liễu Trần hỏi:
- Sư đệ, sao đổ lắm mồ hôi thế? 

- Nóng quá ! - Liễu Không đáp. 
- Ừ, nóng quá! - Liễu Trần nói. 

Liễu Không nhìn đăm đăm sư huynh. Từ ánh mắt của sư huynh, Liễu Không đã hiểu tất cả. Không biết làm thế nào, nhà sư chỉ cười. Liễu Trần hỏi:
- Sư đệ, đệ có biết vừa nãy mình đã làm gì không? 


Liễu Không đáp:
- Đệ chẳng làm gì cả.
- Đệ có làm đấy!- Liễu Trần nói.
- Đệ không làm!- Liễu không nói. 

Liễu Trần hỏi:
- Đệ quên à? 


Liễu Không đáp: 
- Đệ quên rồi.

Liễu Trần nhắc:
- Sư đệ, đệ vừa cõng một cô gái qua sông đấy thôi!

Liễu Không "à" một tiếng, nói:  
- Đúng rồi, đệ có cõng một cô gái qua sông, nhưng sang đến bờ bên này là đệ đặt cô ấy xuống rồi quên luôn, chứ không như sư huynh đến bây giờ vẫn còn cõng cô ấy. 

Liễu Trần nín lặng và hiểu vì sao sư phụ lại đặt pháp danh cho mình là Liễu Trần. Liễu Trần cũng hiểu bây giờ trên con đường xa xăm này chỉ có cách là mải miết mà đi. Cảm thấy phiền não, Liễu Trần liền niệm A Di Đà Phật. 

Liễu Không biết sư huynh đang tự độ cho mình, nhưng thực ra, bản thân làm thế nào tự độ cho mình được, trừ phi là có thuyền. 

Nhưng trên đường làm sao có thuyền đây? Chỉ có gió mà thôi. Liễu Không bật cười. Thực ra trên thế gian chỉ cần có gió là đủ. Liễu Không cũng niệm A Di Đà Phật theo sư huynh. 

Đúng lúc đó, từng cụm gió lớn nở hoa trên đường đi. Liễu Không biết đó là hoa sen, hoa sen trắng ngần, tinh khiết. 

Còn cô gái ở đằng sau họ bỗng bay lên thành một đám mây hồng.
Mẫn Phàm Lợi (Trung Quốc)
Phạm Tú Châu dịch

Thứ Ba, 16 tháng 11, 2010

Một ngụ ngôn



MỘT NGỤ NGÔN

Đức Phật kể một ngụ ngôn trong một kinh: Một người đi ngang qua một cánh đồng và gặp một con hổ. Anh chàng chạy trốn, con hổ đuổi theo anh. Tới một bờ vực sâu, anh nắm được vào rễ một cây nho dại và đu mình xuống qua bờ vực. Con hổ đánh hơi anh ở phía bên trên. Run sợ anh chàng nhìn xuống, phía xa bên dưới, lại thấy một con hổ khác đang chờ ăn thịt anh. 

Chỉ có cây nho giúp đỡ anh. Hai con chuột, một con trắng và một con đen, đang bắt đầu gặm nhấm bứt cây nho dần dần từng chút một.
 
Anh chàng nhìn thấy một quả dâu ngon gần bên anh. Một tay nắm cây nho, tay kia anh hái quả dâu. Dâu nếm sao ngon ngọt đến thế!
Nguồn: Vườn Thiền

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2010

Ðèn tắt


Ðèn tắt

Có một anh mù lại thăm một người bạn đến khuya mới về. Người bạn trao cho anh ta một cái đèn. 

- "Tôi cần chi tới đèn, anh ơi. Ðối với tôi, ánh sáng cũng như bóng tối mà thôi", người mù buồn bã trả lời.

- "Tôi biết lắm. Anh chẳng cần đèn để dò đường đi. Nhưng có đèn anh sẽ đỡ bị người khác đâm vào anh. Vậy anh cứ cầm lấy đi." 

Người mù cầm đèn mạnh dạn bước đi. Nhưng chẳng bao lâu, có kẻ đâm thẳng vào anh ta.

- "Ô hay! Ði đứng phải coi chừng một chút chứ. Bộ ông không nhìn thấy ánh đèn của tôi sao?"
 
Người lạ mặt trả lời chậm rãi:
- "Này ông bạn ơi! Ðèn ông bạn đã tắt từ lâu rồi..."
Nguồn: Vườn Thiền

Thứ Ba, 26 tháng 10, 2010

Chiếc thuyền đụng chiếc đò


Chiếc thuyền đụng chiếc đò

Một chiếc đò sang sông. Có chiếc thuyền không có người từ đâu trôi đến đâm phải. Người lái đò tuy hẹp bụng đến đâu cũng không lấy làm giận. Giả sử trên chiếc thuyền có người ngồi thì người lái đò tất phùng mang trợn mắt, tru tréo, rồi đến buông lời chửi rủa thậm tệ.

Một việc xảy ra cũng giống nhau, mà như lúc trước thì không giận, như lúc sau lại giận là tại làm sao?

-Tại lúc trước chiếc thuyền không có người mà lúc sau chiếc thuyền lại có người.

- Nếu con người ta cứ thản nhiên không có chút tư ý gì thì ở đời này còn có ai hại mình nữa đâu chứ!
Nguồn: Vườn Thiền.

Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2010

Thiền Sư và Cô Lái Đò


THIỀN SƯ VÀ CÔ LÁI ĐÒ


Cô lái đò đưa khách qua sông. Đò cập bến cô lái thu tiền từng người.
Sau hết đến nhà sư.
Cô lái đò đòi tiền gấp đôi.
 
Nhà Sư ngạc nhiên hỏi vì sao?
 Cô lái mỉm cười: 
- Vì Thầy nhìn em… 
Nhà sư nín lặng trả tiền và bước lên bờ.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy cô lái đòi tiền gấp ba. 
Nhà sư hỏi vì sao?
Cô lái cười bảo:
 
- Lần nầy Thầy nhìn em dưới nước.
Nhà sư nín lặng trả tiền và bước lên bờ.


Lần khác nhà sư lại qua sông. 
Vừa bước lên đò nhà sư nhắm nghiền mắt lại đi vào thiền định. 
Đò cập bến cô lái đò thu tiền gấp năm lần. 
Nhà sư hỏi vì sao? 
Cô lái đáp: 
- Thầy không nhìn nhưng còn nghĩ đến em.
Nhà sư trả tiền và lên bờ.


Một hôm nhà sư lại qua sông. 
Lần nầy nhà sư nhìn thẳng vào cô lái đò.
Đò cập bến, nhà sư cười hỏi lần nầy phải trả bao nhiêu?
Cô lái đáp:
 
- Em xin đưa Thầy qua sông, không thu tiền. 
Thiền sư hỏi: 
- Vì sao vậy?
Cô lái cười đáp:

- Thầy nhìn mà không còn nghĩ tới em nữa.
Do vậy em xin đưa Thầy qua sông mà thôi.

Nguồn: Vườn Thiền

Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2010

Đạt Ma Tổ Sư mất dép



ĐẠT MA MẤT DÉP

Trong các chùa thuộc Bắc Tông, thường treo bức tranh một hành giả dữ tướng, cao to, quắc thước, râu hùm, hàm én, mắt lóe kỳ quang, mình vận cà sa, vai quảy một chiếc dép, đang mãi miết bôn tẩu thiên lý.

Đó chính là Bồ-Đề-Đạt-Ma (Bodhidharma), vị tổ thứ 28 sau Phật Thích Ca Mâu Ni và là Sư tổ của Thiền tông Trung Quốc, đồng thời cũng là sư tổ võ phái Thiếu Lâm Tự ở Trung Quốc. Ngài viên tịch năm 543, đến nay đã hơn ngàn năm. Nghi án “chiếc dép Tổ Sư” đã khiến cho người đời tốn khá nhiều công sức để tranh luận và hình như chưa bao giờ phân định được thị phi. 

Có người nói chiếc dép trên vai của Thiền Sư là Đạo pháp để lại, đạo pháp mang đi. Người thì chỉ vào chân trần của sư tổ nói: Sắc là không, không là sắc. Vì sao người ta  chỉ chú mục đến bức tranh, mà không chịu đọc  lại bức đại tự ghi tôn chỉ của thiền tông: “Bất lập văn tự/Giáo ngoại biệt truyền/Trực chỉ nhân tâm/Kiến tính thành Phật”. (Không lệ thuộc vào kinh sách, truyền dạy ngoài giáo lý, hướng thẳng đến tim người, thấy chân lý mà giác ngộ). 

Lại nhớ đến chuyện về buổi hội kiến của sơ tổ Thiền Tông (Bodhidharma) với Lương Vũ Đế, buổi đầu ông đặt chân đến Trung Quốc. Là một người phụng sự đạo Phật, Lương Vũ Đế đã cho xây nhiều chùa chiền, bảo tháp. Vũ Đế hỏi nhà sư Ấn Độ: "Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?". Đạt Ma đáp: “Không có công đức”. Vua lại hỏi: “Vậy công đức chân thật là gì?”. Sư đáp: “Trí phải được Thanh Tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không hoàn toàn, như vậy mới là công đức”. Vua lại hỏi: “Ai đang đối diện với Trẫm đây?”. Sư đáp: “Tôi không biết”. 

Ôi! Bồ Đề Đạt Ma! Hành trạng Ngài sao mà kỳ bí? Vũ Đế, xây chùa, chép kinh, độ tăng… mà Ngài còn chưa cho là công đức thì làm gì mới được coi là công đức đây? Hội kiến không thành Ngài vượt sông Dương Tử mênh mông sóng dữ, chỉ với chiếc thuyền con, rồi bỏ lên núi, ngồi quay mặt vào vách đá 9 năm, truyền y-bát cho Huệ Khả xong thì viên tịch nhưng rồi có người lại gặp Ngài trên núi Hùng Nhĩ, vai quảy một chiếc gậy, đầu gậy có xỏ một chiếc dép. Rồi ngay cả chuyện ngài truyền tâm ấn cho Huệ Khả, người thường cũng đâu dễ gì hiểu nổi. Tương truyền, trước khi về, gọi đệ tử trình bày sở đắc: "Giờ ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử hãy nói cho ta nghe sở đắc của mình". Đạo Phó bạch: "Theo chỗ thấy của con, muốn thấy đạo phải chẳng chấp văn tự, mà cũng chẳng lìa văn tự". Sư đáp: "Con được lớp da của ta rồi".
Ni Tổng Trì nói:
"Chỗ giải của con như cái mừng thấy Phật (tâm) bất động, thấy được một lần, sau không thấy lại nữa". Sư nói: "Con được phần thịt của ta rồi". Đạo Dục, một đệ tử khác, bạch: "Tứ đại vốn không, Ngũ uẩn chẳng phải thật có, vậy chỗ thấy của con là không một Pháp nào khả được". Sư đáp: "Con được bộ xương của ta rồi". Cuối cùng, đến phiên Huệ Khả. Huệ Khả lễ bái Sư rồi đứng ngay một chỗ, không bạch không nói gì cả. Sư bảo: "Con đã được phần tủy của ta." 

Giữa bời bời những công án rối rắm mê hồn như vậy, hãy bắt đầu từ chiếc dép của Tổ Sư, xem chừng, còn khả hữu. Ngôn ngữ, là thứ vưu vật đặc hữu, chỉ con người mới có, ngôn ngữ có sự kì diệu của ngôn ngữ, nhưng cũng có sự suy đồi của ngôn ngữ. Ngôn ngữ kì diệu là ngôn ngữ đem đến cho con người sự cảm thông và chia sẻ, ngôn ngữ suy đồi là thứ ngôn ngữ vu khoát, trí trá, che đậy những tư tưởng xấu xa, bằng những lời có cánh, nhằm mê dụ lòng người.

Sự lầm lẫn của chúng ta cũng giống như Lương Vũ Đế, dương dương tự đắc khoe việc tô tượng, đúc chuông, xây chùa, chép kinh, mà không ngộ nổi những lời khai thị, rất rõ ràng về yếu tính Phật Pháp của Bồ Đề Sư Tổ. 

Chín năm ngồi nhìn thạch bích, hẳn sư tổ đã thấu triệt được hiền minh của sự im lặng. Chúng ta chỉ có một đời sống duy nhất, và đời sống đó đang bị xới tung lên, bởi những hành ngôn, diễn ngôn đẹp đẽ và dối trá. Khi Bồ Đề  Đạt Ma trao truyền tâm ấn cho Huệ Khả, vị đệ tử đã dùng sự im lặng để trả lời Ngài. Và nếu có ai lúc bấy giời thầm hỏi Tổ Sư: “Bạch Sư Tổ, vì sao Người lại chỉ mang mỗi một chiếc dép?”, chắc sẽ nhận được nụ cười hỉ xả của Sư Tổ kèm theo câu trả lời: “Ta bị rơi mất một chiếc rồi mà!”.  
Sự thật có lẽ chỉ giản dị như vậy thôi. 

Theo Tịnh Tuệ.

Thứ Sáu, 17 tháng 9, 2010

101 Truyện Thiền



101 TRUYỆN THIỀN

Quý anh chị em vào đường link sau để cùng đọc 101 câu truyện thiền rất hay và rất có ý nghĩa:


Chánh Tuân.