Thứ Ba, 24 tháng 5, 2011

Bình giảng quẻ Trạch Lôi Tùy của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ





BÌNH GIẢNG QUẺ TÙY

Quẻ Tùy với chữ Thời [1]

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

I. TÙY VỚI CHỮ THỜI

Quẻ Tùy là một trong 12 quẻ Dịch bàn về chữ Thời. Vì thế nơi quẻ Tùy ta hãy duyệt lại vấn đề chữ Thời, vấn đề thời gian trong Kinh Dịch cũng như trong cuộc đời.

Chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề thời gian với những lời văn bình dị, những nhận xét bình dị, với một tâm hồn bình dị của một lữ khách cũng đang như ai thả thuyền đời trên giòng sông thời gian, nhưng không phải là để sống cuộc sống phiêu bạt giang hồ mà chính là dùng thời gian làm phương tiện chuyển vận tiến về căn nguyên vĩnh cửu.

Có thể nói được rằng thời gian sinh ra là do sự chuyển dịch, biến dịch của vạn hữu. Thời gian! Thời gian! Che dấu dưới bộ mặt hiền từ và đơn sơ của từ ngữ là biết bao bí ẩn của nhân sinh nhân thế, biết bao là cơ cấu và tự sự khác nhau!

- Trước tiên, tinh cầu và địa cầu chuyển dịch trên vòm trời, tạo nên tháng năm và tuần tiết: đó là thời gian thiên văn (temps sidéral, astonomique, ou physique).

- Các tế bào trong người ta sinh sinh hóa hóa, lúc thạnh lúc suy, lúc tụ lúc tán, cũng tạo nên một thứ thời gian: đó là thời gian tuổi tác (temps biologique).

- Tâm hồn ta chuyển dịch, biến thiên, vui vui buồn buồn, lúc thì bừng sáng như bình minh, lúc thì ảm đảm như bóng tối. Sự chuyển biến ấy cũng tạo nên một thứ thời gian: đó là thời gian tâm lý (temps psychologique).

- Tâm tư chí hướng, dân tình của mỗi dân, mỗi nước cũng biến thiên, tạo nên một thứ thời gian mới là thời gian lịch sử (temps historique).

- Nếu thời gian là sự chuyển dịch thì những duyên cớ, những ý hướng gây nên sự chuyển dịch ấy chính là nguyên do sinh ra sự mất thăng bằng, sinh ra sự chuyển dịch, sinh ra thời gian. Mà đã chuyển dịch thì phải đưa đến một kết quả nào, cho nên thời gian chính là quá trình để ta thực hiện một công tác gì, một mục đích gì.

Vũ trụ dùng thời gian để làm hiện lên tất cả những gì đẹp tươi còn đang tiềm ẩn trong lòng vũ trụ.

Cá nhân chúng ta dùng thời gian để thực hiện ước mơ, thực hiện nguyện vọng của chúng ta.

Xã hội nhân quần dùng thời gian để thực hiện sự siêu thăng hóa của con người.

Thời gian như là động cơ mà không gian như là môi trường chuyển dịch.

Thời gian, không gian cũng có thể nói chung là hoàn cảnh mà tâm hồn ta sẽ băng qua, trên lộ trình đi tìm chân lý, đi tìm bản thể và tuyệt đối, hay nói cách khác, trên lộ trình thực hiện con người chân thực của ta.

Ngày nay thời gian và không gian cũng chỉ được coi là hai chiều động tĩnh của một thực thể, cho nên ta dùng chữ hoàn cảnh mà gọi thời gian cũng chẳng sai.

Trên đây ta đã dùng lời lẽ giăng dò đan lưới để bắt con thỏ thời gian, những lời lẽ ta, những định nghĩa ta chỉ cốt là để bắt thời gian và để sử dụng thời gian, chứ chúng ta không có cao vọng đi sâu vào thực chất của thời gian. Dò lưới bắt thỏ dĩ nhiên phải khác thỏ.

Hiểu thời gian là chuyển biến, hiểu thời gian là những hoàn cảnh khác biệt, những giai đoạn khác biệt mà tâm hồn mỗi người sẽ băng qua, hoặc là để thực hiện căn cốt bản tính của mình, hoặc là để thực hiện một hoài bão, một ước mơ hay một công trình nào đó sẽ làm cho ta thấy thời gian có chiều hướng.

Và mỗi tâm hồn, mỗi con người đều đang vẽ trên nền tĩnh lặng của vĩnh cửu một hay nhiều chu kỳ thời gian, để vẽ nên bộ mặt thực của mình, để diễn xuất một vai trò nào đó, trước sự quan chiêm của xóm giềng, của họ hàng, của quốc gia xã hội, của hoàn võ, vũ trụ và thần minh.[2]

Như vậy thời gian trở nên có ý nghĩa với con người và con người không còn phải than thở như Lamartine:

"Phiêu dạt mãi tới bến bờ xa lắc,
Trong đêm tăm lưu lạc biết về đâu;
Lênh đênh sống trên trùng dương thời khắc,
Chẳng buông neo dừng lại được ngay sao?" [3]

Muốn cho cuộc đời ta thêm ý nghĩa, ta phải phác họa đại khái cho ta những chiều hướng, những bước đường của ta sẽ đi, những giai đoạn mà ta sẽ muốn vượt, những công trình mà ta sẽ muốn làm từ đầu đến cuối cuộc đời. Được như vậy ta sẽ sống một cuộc đời thoải mái sung sướng và cuộc đời chúng ta sẽ là một mùa xuân bất diệt như lời Thiệu Tử:

"Nhĩ mục thông minh nam tử thân,

 耳 目 聰 明 男 子 身

Hồng Quân phú dữ bất vi bần.

 洪 鈞 賦 與 不 為 貧

Tu tham nguyệt quật phương tri vật,

 須 探 月 窟 方 知 物

Vị nhiếp Thiên Căn khởi thức nhân.

 未 躡 天 根 豈 識 人

Kiền ngộ Tốn thời quan nguyệt quật,

 乾 遇 巽 時 觀 月 窟

Địa phùng Lôi xứ kiến thiên căn.

 地 逢 雷 處 見 天 根

Thiên căn nguyệt quật thường lai vãng,

 天 根 月 窟 常 來 往

Tam thập lục cung đô thị xuân."

 三 十 六 宮 都 是 春.[4]

Dịch:

Thông tuệ nam nhi đứng cõi đời,

Lòng mang tạo hóa há đâu chơi.

Quyết tham nguyệt quật cho hay vật,

Cố hiểu thiên căn để biết người.

Trời nổi gió giông thông động nguyệt,

Đất vang sấm chớp lộ căn trời.

Căn trời nguyệt động thường lai vãng,

Ba sáu cung xuân trọn vẹn đời.

Dịch cho rằng sự chuyển biến, chuyển dịch hay thời gian đã phát sinh từ một nguồn bất biến, bất dịch, và như con rồng sau khi đã triển dương thiên biến vạn hóa trên kịch trường không gian lại xoay trở về được với bất dịch, bất biến, vô vi, vô gián.

Vì vậy người quân tử khi đã hiểu lẽ Dịch phải biết cỡi 5 con rồng biến hóa của thời gian để trở lại cùng vĩnh cửu và tuyệt đối.

Lão giáo viết: «Ngũ long bổng thánh Côn Lôn đỉnh.» 五 龍 棒 聖崑 崙 頂.[5]

Trình Tử viết một cách giản dị hơn: «Tùy thời biến dịch dĩ tòng đạo.» 隨 時 變 易 以 從 道.[6] Chữ tòng đạo ở đây cũng giống như chữ suất tính 率 性 của Trung Dung. Nôm na hơn, ta nói rằng: Bổn phận người quân tử là phải dùng thời gian tuổi tác, lịch sử để tinh luyện tâm thần mình, để rốt ráo thực hiện được tuyệt đối. Và muốn biết định mệnh của mỗi một con người ta chỉ cần biết xem mục phiêu của họ, bình sinh chi chí của họ là gì, xem họ tùy thời biến dịch để tòng đạo hay tòng danh, tòng lợi, tòng nghĩa, tòng dục… Cho nên chữ tùy thời thực là can hệ vậy.

Dịch là bàn về chữ Thời và dạy cách cư xử cho hay cho khéo trong mỗi giai đoạn, mỗi trường hợp. Nhưng đặc biệt có 12 quẻ bàn đến chữ Thời:

1. Bàn suông chữ Thời, có 4 quẻ:

 . Di.

 . Đại Quá.

 . Cách.

 . Giải.

2. Bàn đến Thời nghĩa tức là bàn ý nghĩa của chữ Thời và hoàn cảnh cũng như cách xử thế trong mỗi một khung cảnh thời gian, có 4 quẻ:

 . Dự.

 . Lữ.

 . Cấu.

 . Độn.

3. Bàn về ý nghĩa của sự Tùy Thời có quẻ Tùy.

4. Bàn về cách lợi dụng những hoàn cảnh đặc biệt nguy hiểm, có 3 quẻ:

 . Khảm.

 . Khuê.

 . Kiển.

Ta bình giải chung đại khái như sau: Sống ở đời ta sẽ mục kích nhiều thời kỳ khác nhau:

- Có lúc bình yên để cho mọi người nghĩ đến sự di dưỡng tâm thần và thể chất (quẻ Di).
- Có những thời kỳ thay đổi toàn diện như cọp đổi lốt, báo thay da, để đem lại cái gì mới mẻ hơn (quẻ Cách).
- Có thời kỳ cá nhân hay nhân loại phải lập nên những đại công, đại nghiệp đặc biệt phi phàm (quẻ Đại Quá).
- Cũng có thời kỳ phải xây dựng lại trên những tàn tích cũ (quẻ Giải).

Về ý nghĩa của chữ Thời, ý nghĩa của ít nhiều giai đoạn trong cuộc đời, ta bình giải như sau:

- Chúng ta sở dĩ phải dấn thân vào chốn trần hoàn là cốt làm cho trần hoàn thêm đẹp, thêm tươi, chịu thử thách để cho mình thêm điêu luyện, tinh toàn (quẻ Cấu).
- Tuy nhiên vì mục đích của chúng ta là Đạo, là Thái Cực, ta phải coi những chặng đường trần hoàn của ta như một cuộc lữ thứ đi qua ngoại cảnh (quẻ Lữ).
- Mặt trời có lúc lặn lúc mọc, con người cũng có khi ẩn khi hiện. Khi thấy cơ nguy nên ẩn, nên độn mới hay. Thế mới là minh triết bảo thân (quẻ Độn).
- Nếu ta dùng được trần hoàn để mà tinh luyện tâm thần, để tâm hồn rung cảm được với khúc đại hòa ca của vũ trụ, thì tuy sống trong trần ai tục lụy nhưng mà lòng ta bao giờ cũng vẫn vui tươi (quẻ Dự).
- Tóm lại ta phải biết tùy thời xử thế, chấp nhận mọi hoàn cảnh như một cuộc thử thách, tìm mọi phương cách để lướt thắng, chế ngự hoàn cảnh, để rèn luyện giũa mài nhân tâm, nhân cách của ta; dùng hoàn cảnh làm bậc thang hay làm xe, làm ngựa, chở mình về Thái Cực, về tuyệt đỉnh tinh hoa mới là hiểu được nghĩa lý của hai chữ tùy thời (quẻ Tùy).

- Đàng khác, nếu ta có tài thì ta có thể biến nghịch cảnh thành thuận cảnh, lợi dụng mọi hoàn cảnh để tô điểm cho đời ta thêm đẹp thêm tươi.

+ Gặp núi non hiểm trở, địa thế kỳ khu, ta sẽ dùng làm bình phong phòng ngự cho kinh đô, cho quốc thổ (quẻ Khảm).
+ Tinh thần hay vật chất đều có thể giúp ích cho tao nhân mặc khách. Hiểu được như vậy, vạn sự vạn vật đều thuộc quyền sử dụng của ta (quẻ Khuê).

+ Khi mà gặp hiểm nguy ở đời như người kẹt giữa khe cùng núi, ta hãy trở về tu luyện nội tâm, như vậy cũng sẽ hóa thông, hung sẽ hóa cát. Thế là hiểu được Dịch (quẻ Kiển).

Hiểu được thời gian như vậy, thời gian sẽ luôn luôn là công cụ cho ta dùng để thực hiện lý tưởng, chứ không phải là cái gì xa lạ đối với ta, để lúc thì muốn níu kéo lại, lúc thì muốn xua đuổi đi, như Lamartine làm bài thơ tình bên hồ nước:

Thời gian hỡi xin khoan đừng rong ruổi,

Giờ ái ân xin tạm hoãn đừng trôi.

Cho ta hưởng phút thần tiên ngắn ngủi,

Của những ngày thơ mộng nhất trong đời.

*

Trần hoàn nay bao người đang khổ ải,

Van thời gian vì họ hãy trôi đi.

Trôi đi để xóa nhòa niềm oan trái,

Còn quên cho vì kẻ sống mê ly.

*

Nhưng thời khắc van xin đâu có được,

Thời gian trôi nghiệt ngã cứ trôi đi.

Ta tha thiết van xin đêm ngừng bước,

Nhưng bình minh tàn nhẫn chẳng diên trì. [7]

 II. TÙY VỚI HAI CHỮ TÙY THỜI

Bây giờ ta trở về quẻ Tùy để giảng rộng hai chữ tùy thời.

Như trên đã nói, thời gian chỉ là những giai đoạn, những công cụ, những điều kiện cần thiết để chúng ta đào luyện xác thân, trí não, tâm thần, để con người trở nên hoàn hảo, toàn chân, toàn mỹ.

Như vậy ta cần phải xác định mục phiêu và chí hướng của ta. Sau đó phải biết quyền biến, tùy thời xử thế, tùy nghi tiến thoái để thực hiện mục phiêu ấy.

Nghĩa chữ thùy thời xử thế đã được Mạnh Tử hết sức tán dương. Mạnh Tử khen Khổng Tử là "Thánh chi thời", vì đã biết xử sự khéo léo tùy theo mỗi hoàn cảnh:

"Đức Khổng Tử khi ra khỏi nước Tề, gạo vừa vo xong, chưa kịp nấu chín, thế mà ngài tiếp lấy vội vã ra đi. Khi ngài ra khỏi nước Lỗ, ngài nói rằng: ‘Ta chầm chậm mà đi thôi.’ Đó là cách buộc lòng rời đất nước của cha mẹ vậy. Lúc cần đi gấp thì ngài đi gấp, lúc cần ở lâu thì ngài ở lâu. Khi nên lui về ở ẩn thì ngài lui về ở ẩn. Khi nên tiến lên làm quan thì ngài tiến lên làm quan. Đó là phong độ của Đức Khổng Tử vậy… Đức Khổng là bậc thánh có đức thời trung." [8]

Về phương diện cá nhân, có thể nói sự nhận định về niềm tin tưởng của ta về cốt cách, về bản tính con người, có một ảnh hưởng quyết định trong công cuộc tùy thời biến dịch.

Bàn chung về cốt cách con người xưa nay, đại khái có 3 quan niệm khác nhau:

1. Montaigne cũng như các triết gia duy vật hiện nay cho rằng con người chỉ có vật cách, con người chỉ là con vật tiến hóa.[9] Nếu vậy thì đối với họ, thời gian chỉ có thể dùng mà tìm cầu, mà hưởng những lạc thú nhãn tiền. Và trước sự trôi chảy không ngừng của thời gian họ sẽ bảo nhau:

Yêu nhau đi, yêu đi, xin vội vã,
Những phút giây ngắn ngủi hưởng cho cùng.
Người vô định, thời gian không quán xá.
Thời gian trôi, người già mãi chẳng ngừng.[10]

Và họ than:

Thời gian hỡi, ghen tuông chi lắm tá,
Chẳng lẽ nào những khoảnh klhắc mê ly,
Cũng xa bay với một niềm vội vã,
Như những ngày đau khổ đượm sầu bi.[11]

2. Epictète cũng như các nhà huyền học Âu Châu xưa nay chủ trương con người có thiên cách, thần cách, tiên cách. Như vậy, thời gian và hoàn cảnh chính là lò cừ để luyện cho con người trở nên tinh ròng, thuần túy, toàn chân, toàn thiện.[12] Con người sinh ra phải dùng thời gian và hoàn cảnh, hay cũng như dở mà làm cho sáng tỏ, cho chói chang phẩm cách, thần cách, tiên cách của mình. Đó chính là tùy thời biến dịch dĩ tòng Đạo của Trình Tử.

3. Pascal và các giáo hữu Âu Mỹ hiện nay chủ trương con người chẳng phải là vật, cũng chẳng phải thần. Con người chỉ có nhân cách. Con người là một loài ở giữa thần và vật, một mâu thuẫn sống động, một quái tượng hay là một kỳ quan, mà chỉ có sự mặc khải, qua trung gian của ‘sự điên khùng của thánh giá’ [13] mới có thể giải thích và cứu rỗi được.[14] Trong trường hợp này con người chỉ được cứu rỗi do ân cứu chuộc và nếu giữ được các giới răn, các giáo điều, v.v... và thời gian trần thế trở nên một sự đền bù, phạt tạ, một cuộc chuẩn bị cho lai sinh hạnh phúc vô biên trên thiên quốc.

Sở dĩ ở quẻ Tùy chúng ta vừa phải bàn đến các quan niệm về cốt cách con người, về bản tính con người, cũng như đề cập đến thời gian, không gian và hoàn cảnh ngoại tại, chính là vì giá trị chân thực của chúng ta là một hàm số tùy thuộc nhiều biến số như tín ngưỡng, hoàn cảnh, tính tình, lập trường, quan điểm, chí hướng, trình độ giáo dục, trình độ hiểu biết, v.v... Khi mà những biến số chưa định được hết thì hàm số vẫn còn vô định. Có lẽ vì thế mà Tạp Quái gọi Tùy Vô cố.

- Tùy thời dẫu sao cũng vô cùng quan trọng, vì nhờ thời gian và hoàn cảnh với tất cả sự thách đố cám dỗ của chúng mà cốt cách của mỗi người dần dà theo đà thời gian sẽ được minh định bằng tầm hiểu biết, bằng cái yêu cái ghét, cái thích thú đặc biệt của mỗi người, niềm tin tưởng, chí hướng và sự quyết tâm thực hiện chí hướng ấy của mỗi người.

Mới hay: Tùy thời chi nghĩa đại hỉ tai!

- Quẻ Tùy dạy ta một bài học rất lớn lao là sống phải biết thích ứng với thời gian hoàn cảnh, tuổi tác, và bất kỳ muốn hiểu ai, hiểu việc gì, phải đặt việc ấy, người ấy vào khung cảnh không gian và thời gian của nó.

- Quẻ Tùy cũng dạy chúng ta rằng cái gì mà tự bản thân chúng ta làm mới đem lại cho chúng ta một nguồn vui thực.

- Khi đã biết con người có nhiều khuynh hướng, nhiều tính cách khác nhau, ta mới biết cách xử thế hay nhất là tùy thời xử thế, nhập giang tùy khúc và ta mới thấy chữ khoan là trọng. Đạo Đức Kinh chương 29 viết:

Những muốn nặn, muốn nhào thiên hạ,
Suy cho cùng, chẳng khá được nào.
 Lòng người nghệ phẩm (thần khí) tối cao,
Ai cho ta nặn, ta nhào tự do.
Ngao ngán kẻ mưu đồ như vậy,
Chẳng chóng chày, hủy hoại lòng người.
 Lòng người ai nắm giữ hoài,
Già tay nắn bóp, bao đời tiêu ma.
Người trần thế (muôn hoa đua nở)
Có nhanh chân, cũng có chậm chân.
 Người nóng nảy, kẻ lần chần,
Người in gang thép, kẻ thuần đào tơ.
Người kiên gan, kẻ như cánh bướm.
Nên thánh hiền sùng thượng chữ khoan.
 Chỉ ngăn quá lạm cực đoan,
Quá giàu, quá chướng, quá ham tiền tài.

Quẻ Tùy trong là sống động, ngoài là vui tươi gợi lên cho ta hình ảnh những nhà đạo học Á Đông, bên trong thì dạt dào nguồn sống, mặt ngoài thì hớn hở hồn nhiên, sống cảm thông với người, uyển chuyển linh động, không câu nệ, không chấp nhất, không cứng cỏi, một chiều, một gióng.

Hệ Từ cho rằng nhìn quẻ Tùy, người xưa đã nghĩ ra cách dùng trâu ngựa tải đồ. Hệ Từ viết:

Dùng trâu dùng ngựa tải xa,

Chở cỗ thiên hạ lợi là biết bao.

Ngựa trâu chuyên chở thấp cao,

Quẻ Tùy chỉ vẽ tiêu hao sự tình.

Ngày nay, trông quẻ Tùy và nhân hai chữ Tùy thời ta sẽ dùng thời gian và hoàn cảnh làm thần ngưu thần mã để ngao du lục nữ và để vượt lên đỉnh non thần Thái Cực.

 III. QUẺ TÙY ÁP DỤNG VÀO THUẬT TRỊ DÂN

Dịch nơi quẻ Tùy dạy chúng ta một phương pháp trị dân rất là giản dị.

Xã hội chẳng qua chỉ là một tập thể con người. Cái tập thể ấy không nên dùng những luật pháp vô nhân, những biện pháp hà khắc để cai trị.

Trái lại phải tổ chức sao cho mọi người đều nhận định ra được thiện chân, thiện lý, nhận định ra rằng mỗi người sinh ra kẻ nhanh người chậm đều cốt là tạo cho mình một đời sống lý tưởng, gồm đủ chân thiện mỹ.

Phải lấy chân thiện mỹ làm mục phiêu để vươn lên, phải lấy sự công chính là cùng đích để đạt tới, rồi ra cuộc đời của mỗi người cũng được hanh thông, cũng được lợi ích thật sự.

Như vậy nhà vua cai trị dân không phải bằng ý riêng mình mà chính là bằng ý trời, đem luật trời hằng cửu mà ban cho dân, đem lý tưởng toàn thiện mà làm mục phiêu để cùng nhau tiến tới. Được như vậy là tùy Thiên thuận Thiên.

Phương châm thứ hai qua bậc lãnh đạo dân là phải biết tùy theo ý muốn của toàn dân, vì dân đã muốn cũng tức là trời muốn, dân đã muốn tức là trời sẽ theo.[15] Lẽ nào nhà lãnh đạo dân đi ngược lại? Đó cũng là chủ trương của Đại Học. Đại Học viết: Vui sướng thay bậc quân tử cha mẹ dân, dân ưa thích điều gì, nhà cầm quyền cũng ưa thích theo. Dân chán ghét điều gì, nhà cầm quyền cũng chán ghét theo, vì biết thuận theo dân tâm, đó mới gọi là cha mẹ dân vậy.

Đó tức là:

 Sướng thay là bậc trị dân,
Cùng dân yêu ghét muôn phần chẳng sai.
 Đáng làm cha mẹ muôn người…[16]

Mà ước muốn của dân thật là giản dị: làm sao có được một đời sống bình an sung túc, đầm ấm thuận hòa, không bị quấy nhiễu bóc lột. Tóm lại, sống một cuộc đời đáng sống, không phải thở than, phải xót xa, phải cay đắng cơ cực.

Trị dân mà thuận lòng dân như vậy, thì bất kỳ đề xướng chuyện gì, dân cũng vui theo, vì họ biết đó là vì họ, vì quyền lợi của họ, và của con cháu họ.

Nếu cai trị mà biết dạy cho dân biết tự động dùng thời gian và hoàn cảnh để cải tạo mình, để tiến tới công chính, tiến tới nguyên tuyền, hoàn thiện, thì còn ai dám trách một vị quân vương như vậy.

- Tượng lại bàn tiếp đến phương châm thứ ba là trị dân phải biết pháp Thiên nhi hành (bắt chước trời mà hành sự). Lúc cần động thì động, lúc cần tĩnh thì tĩnh. Không bắt dân làm gì trái thời trái tiết, để cho dân luôn sống hòa mình vào khối đại vũ trụ.

Đó là bí quyết của thiên Nguyệt Lệnh trong Lễ Vận và đó chính là sự áp dụng kỳ diệu của hai chữ tùy thời vào nghệ thuật trị dân.

Nếu vua trị dân mà biết tùy thời thì triều đình của vua chẳng những gồm có quần thần, mà nhật nguyệt tinh cầu, Nhị thập bát tú cũng đều trở nên những vị quân sư; năm tháng nóng lạnh nắng mưa cũng đều trở nên những quân hầu phục vụ dưới trướng.

Ta có thể dùng mấy vần thơ tóm tắt nghệ thuật tùy thời hành động của người xưa từ đời Nghiêu Thuấn như sau:

Xuân phân tinh đẩu đỉnh đầu,

Dân con nay đã rủ nhau ra ngoài.

Chim muông đẻ trứng, tìm đôi,

Ngày xuân ta chớ buông lơi việc làm.

Tới ngày Hạ Chí chói chang,

Đêm về sao Hỏa hiên ngang đỉnh đầu.

Chúng dân tản mạn dãi dầu,

Chim muông thôi cũng thay màu đổi lông.

Thu phân trú dạ tương đồng,

Sao Hư chập tối vời trông đỉnh đầu.

Dân con mát mẻ bảo nhau,

Chim muông lông lá ra màu tốt tươi.

Đông Chí ngày vắn đêm dài,

Đêm về sao Mão chơi vơi đỉnh đầu.

Dân con ít muốn đi đâu,

Chim muông lông lá trước sau thêm dài. [17]

Các hào tiếp tục bàn đến nghệ thuật tùy thời thuận thiên, thuận nhân để trị dân.

1. Hào Sơ Cửu cho rằng trị dân phải có phương châm cao cả này là: Luôn luôn theo lẽ chính, luôn theo chính đạo, theo lý tưởng. Trị dân mà lâng lâng vẹn sạch niềm tây, treo gương chính nghĩa, tùy thuận nhân tâm thì còn gì hay hơn.

2. Hào Lục Nhị cho rằng người trị dân có hai con đường thuận nhân tâm. Một là theo bầy bọn tiểu nhân, theo thị dục thị hiếu của chúng. Theo tiểu nhân, kích thích nuông chiều thị dục thị hiếu của chúng, âu sẽ mất lòng những người quang minh chính đại, mất lòng những người hiền lương. Không thể nào được vừa lòng cả đôi bên.

3. Hào Lục Tam cho rằng: Nếu thuận theo ước vọng của những người hiền lương công chính thì những kẻ gian tà sẽ lánh mặt xa. Theo đường lối ấy cho cương quyết, cho bền gan, thì sau sẽ hay, sẽ lợi, vì có thể cảm hóa được bọn tiểu nhân tà ngụy.

4. Hào Cửu Tứ cho rằng cai trị thuận nhân tâm không phải là cai trị mị dân. Hơn nữa, một trọng thần mà được lòng dân yêu mến thì phải biết ăn ở cho phải đạo để sao cho lòng người luôn luôn giữ được sự tính thành, hành động luôn luôn hợp nghĩa lý, ngôi vị tuy cao trọng mà không mang tiếng lấn vị vua, quyền thế tuy to tát mà vẫn không đi quá trớn, thế mới là sáng suốt khéo léo. Đó chính là trường hợp Hưng Đạo Vương ba lần phá quân nguyên, phò vua giúp nước mà vẫn trọn được niềm thần tử.

5. Hào Cửu Ngũ: Còn nhà vua ở ngôi vị cao mà luôn luôn sống thuận theo đạo lý, bao giờ cũng tín thành hợp lễ nghĩa, xử sự luôn đúng theo hai chữ Chính Trung, như vậy còn gì đẹp đẽ hơn.

Trong bộ Kinh Thư Đại Toàn có viết: "Vua ở ngôi trung ương trong thiên hạ, tất phải có nhân đức tuyệt vời, mới lập ra tiêu chuẩn tối cao cho mọi người được." [18]

Lễ Ký cũng viết: "Nhà vua cần phải có một tâm hồn thanh nhã, không chao động, mới có thể giữ gìn được sự công chính tuyệt hảo." [19]

Nói thế tức là sống ở thời Tùy, khi mà chúng dân đã biết thuận Thiên thuận lý, thì nhà vua phải siêu phàm thoát tục, phải là một vị chân thiên tử.

6. Hào Thượng Lục cho rằng: Nếu quân vương cùng với bách quan ai nấy trước sau đều tha thiết một lòng thuận theo đạo lý, thuận theo chính nghĩa, chính đạo, thuận theo ước nguyện của dân, thuận theo nhân tâm mà trị dân, thì dĩ nhiên dân sẽ quy thuận, sẽ một dạ trung thành với vua, với chính quyền. Sự khắng khít gắn bó ấy dẫu chư thần cũng phải cảm động; như vậy lo chi mà giang sơn không bền vững. Đó là phương pháp lập nghiệp của Thái Vương xưa ở đất Kỳ Sơn vậy.

Đàng khác, Dịch nói tùy thời. Vậy khi mà dân đã no đủ, đã vui sướng, đã có một tâm hồn tinh khiết, thì nhà cầm quyền còn có chương trình gì nữa được thực hiện thêm cho họ? Thưa, lúc ấy phải chỉ cho họ con đường trời, phải hướng họ về tuyệt điểm tinh hoa, dạy họ sống một cuộc đời toàn chân, toàn diện, cho mọi người hướng về Hoàng Cực, hội nơi Hoàng Cực. Kinh Thư viết:

Đường trời nọ thẳng vo thẳng tắp,

Vút một lèo tới cực cao minh.[20]

Thế mới chính là ‘tùy thời biến dịch nhi tòng đạo’ cho mình và cho dân. Tòng đạo để các đạo cùng nhau tiến đến tinh hoa thuần túy, vĩnh cửu vô cương.

Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng toàn thể xã hội bao giờ cũng được sắp xếp theo định luật Dịch và đồ biểu Gauss, nghĩa là thượng thánh và hạ ngu thì rất ít, còn kẻ tầm thường thì chiếm đại đa số.

Nói theo Dịch ta có: (A+D)6= A6 + 6A5D + 15A4D2 + 20A3D3 + 15A2D4 + 6AD5 + D6

Và theo đồ biểu Gauss ta có:





Biết như vậy ta mới hiểu tại sao Trung Dung nói:

Vua Thuấn thực thông minh sáng suốt,

Thích hỏi han, quan sát chuyện đời.

Rồi ra cân nhắc đầy vơi,

Xấu thời đậy điệm, lành thời phô trương.

Hai cực đoan ngài thường giữ lấy,

Chỉ xem điều vua phải dạy dân,

Thảo nào vua Thuấn tiếng tăm.[21]




CHÚ THÍCH:

[1] Trích từ phần bình luận quẻ TÙY trong quyển Chu Dịch Giảng Bình của Bs Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ, quyển 2, sách Ronéo, Saigon, 1974, tr. 15-26.

[2] Tout Cycle parcouru par une âme est mesurée par un temps. mais tandis que le cycle de chacun des autres âmes est mesuré par un certain temps, le cycle de la première Âme qui soit soumise à la mesure du temps est mesuré par le temps total.

Comme tous les mouvements des ces âmes en effet, comportent succession, il en est de même de leurs cycles périodique, en sorte que ceux-ci sont mesurés par un temps, et le temps est cela même qui mesure tous les cycles périodiques des âmes.

La Religion essentielle, p. 101.

[3] Trích dịch bài thơ Le Lac của Lamartine.

[4] Dịch Kinh Đại Toàn, viên đồ, tr. 41

[5] Tiên Thiên Luận Ngữ 先 天 論 語 , 5.

[6] Đại Toàn, Chu Dịch Trình Tử truyện tự

[7] Xem Le Lac của Lamartine.

[8] Mạnh Tử, Vạn Chương [hạ], 1.

[9] … En effet, Montaigne le sceptique abaisie l’homme au niveau de la bête, lorsqu’il dénie à la raison la capacité de connaître la vérité, et par la même, ravale son orgueil.

La Table Ronde, No 171, Avril 1962, p.123.

[10] Xem Le Lac của Lamartine.

[11] Xem Le Lac của Lamartine.

[12] Epictète le Stoïcien, exalte l’homme au-dessus de lui-même, jusqu’à en faire un Dieu, un rival du Ciel, qui se suffit à lui même, et de lui-même se perd du se sauve, selon qu’il soit vivre ou non selon la raison. La Table Ronde, No171, Avril 1962, p. 125

[13] La langage de la croix est en effet folie pourceux qui se perdent, mais pour ceux qui se sauvent, il est puissance de Dieu.» I Cor. 1.18.

[14] Pascal se sert du scepticisme de Montaigne pour ‘abaisser’ ‘l’orgueil stoïcien, et de celui-ci pour élever l’homme au dessus de la bête… L’homme est contradiction vivante ‘monstre’ ‘prodige’ que la seule révélation, à traverse la ‘folie de la Croix’ peut expliquer et sauver…

  La Table Ronde, No171, Avril 1962, p. 126

[15] Thiên thị tự ngã dân thị. Thiên thính tự ngã dân thính. 天 視 自 我 民 視 . 天 聽 自 我 民 聽. Thư Kinh, Thái Thệ, Trung, 7.

… Dân chi sở dục, thiên tất tòng chi. 民 之 所欲 天 必 從 之. Thư Kinh, Thái Thệ, Thượng, 11.

[16] Xem Đại Học, chương 10.

[17] Xem Thư Kinh, Nghiêu Điển. Xem Nguyễn Văn Thọ, Khổng Học Tinh Hoa, tr. 229, 230, 231.

[18] Nhân quân cư thiên hạ chi trung, tắc tất hữu thiên hạ chi tuyệt đức, nhi hậu khả dĩ lập chí cực tiêu chuẩn. 人 君 居 天 下 之 中 , 則 必 有 天 下 之 絕 德 , 而 後 可 以 立 至 極 之 標 準. Kinh Thư Đại Toàn, quyển III, tr. 27

[19] Vương trung tâm vô vi dã, dĩ thủ chí chính. 王 中 心 無 為 也 , 以 守 至 正. Lễ Ký, Lễ Vận, tiết 2. Xem thêm Nguyễn Văn Thọ, Khổng Học Tinh Hoa, tr. 240.

[20] Kinh Thư, Hồng Phạm, tiết 1: Vương đạo chính trực; Hội kỳ hữu cực; Quy kỳ hữu cực. 王 道 正 直 ; 會 其 有 極 ; 歸 其 有 極.

[21] Trung Dung, chương 6.
Nguồn: nhantu.net

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

Con thằn lằn chọn nghiệp

 

Con thằn lằn chọn nghiệp


1.
Giữa một đường truông thăm thẳm, vắng vẻ và âm u, không một xóm nhà, ít người qua lại, có một cái am nhỏ. Am ấy mới cất, độ non ba năm thôi. Trong am, chỉ có một sư cụ già, thui thủi một mình, quanh năm chẳng được ai thăm viếng. Trước am, nơi giữa sân, chất sẵn một đống củi, vừa lớn, vừa cao ngất, củi sắp vuông vắn, thẳng thắn, dường như được săn sóc chẳng khác một vườn kiểng do một vị lão trưởng giả chăm nom.
Một hôm, trời đã tối rồi, nhà sư vừa lên đèn được một chặp, thì có hai người khách đến trước ngưỡng cửa, vái mà thưa rằng:
- Bạch sư cụ, nhờ ngọn đèn dắt dẫn, chúng tôi mới dõi đến đây. Mong nhờ sư cụ cho tá túc một đêm, sáng mai chúng tôi sẽ lên đường.
Nhà sư ung dung, chắp tay đáp:
- Mô Phật, cửa thiền bao giờ cũng mở rộng cho người lỡ bước.
Rồi dừng một phút, dường như để trấn tĩnh nỗi vui đương sôi nổi trong lòng, nhà sư tiếp:
- Ngót ba năm nay, tôi mở am nơi này, không được một ai đến viếng. Ngày nay là ngày ước nguyện, may được hai ngài quá bước, ghé nghỉ chân. Âu cũng là duyên trước….
Nói xong, nhà sư dọn cơm chay cho khách dùng, và câu chuyện không đề, vô tình dẫn khách đến câu hỏi:
- Bạch sư cụ, chẳng hay sư cụ thích tụng kinh nào?
Vui sướng, vì như gặp bạn tri âm, nhà sư đáp:
- Tôi quy y Phật pháp từ thuở bé, rừng thiền có thể nói rằng đã viếng khắp nơi. Cách ba năm nay, lòng huệ được mở ra…. Và từ ấy, tôi chỉ tụng kinh Di Lặc.
Một người khách hỏi:
- Sư cụ có thể cho tôi biết duyên cớ vì sao chăng?
- Mô Phật. Chỉ có lời nói mà độ được người, tôi sao dám tiếc lời? Vậy tôi xin vui lòng nói cho hai ngài rõ. Bởi tôi đọc qua các kinh sách, thấy rằng Phật Thích Ca khi đắc đạo, có dạy: Hai ngàn năm trăm năm về sau, Phật pháp sẽ đến chỗ chi ly, ấy là hồi mạt pháp. Di Lặc sẽ xuống trần mà cứu độ chúng sanh và chỉnh đạo lại. Nay cũng đã gần đến kỳ hạn. Chắc là Phật Di Lặc đã xuống trần mà độ kẻ thành tâm tu hành. Bởi lẽ ấy tôi có nguyện tụng đủ một nghìn lần kinh Di Lặc. Nếu lời nguyện được y, ấy là tôi sẽ đắc đạo.
Người khách thứ hai hỏi:
- Sư cụ đã tụng được bao nhiêu lần rồi?
- Đã được chín trăm chín mươi chín lần rồi. Bây giờ, chỉ còn lần thứ một nghìn; lần tụng của đêm nay. Chắc hai ngài trước có duyên lành, đêm nay đến mà chứng kiến tôi tụng lần thứ một nghìn ấy….
Đến đây, bữa cơm chay đã mãn. Khách mệt mỏi, xin ngả lưng. Nhà sư dọn dẹp trong am cho thanh khiết, rồi bước tới trước bàn Phật, khêu bấc đèn dầu, mở kinh ra mà khởi sự tụng. Tiếng tụng kinh chậm rãi, như nện vào không gian. Thỉnh thoảng một tiếng chuông ngân lên, đánh dấu chuỗi tiếng mõ dài đăng đẳng…. 

2.
Trước khi nhắm mắt ngủ, hai người khách còn trao đổi vài câu:
- Tội nghiệp thay cho sư cụ già, quá mê tín, mất sáng suốt, mà không giác ngộ. Phật pháp lập ra đã hai nghìn năm trăm năm về trước, tránh sao cho chẳng có chỗ lỗi thời. Nhận thấy chỗ lỗi thời, các môn đệ ắt phải lo tài bồi, phát triển mối đạo. Thế là có tư tưởng này, học thuyết nọ; rồi sanh ra môn ra phái. Ấy là nguồn gốc của sự chi ly. Nay rừng thiền đã hơn tám mươi bốn ngàn cội khác nhau, ấy là lẽ dĩ nhiên vậy.
- Tôi cũng đồng ý với anh về chỗ đó, và nghĩ thêm rằng: Nếu bây giờ có một vị Di Lặc xuống trần, thì vị ấy có trọng trách cất nhắc Phật pháp cho kịp với mọi sự tiến hóa của mọi sự việc từ hơn hai nghìn năm nay. Và trách nhiệm của mỗi tín đồ của Phật là dọn mình cho sẵn, để đón rước cái Pháp mới sắp ra đời. Chớ mê mải trong việc gõ mõ tụng kinh, há chẳng phải là phụ lòng mong của Thích Ca chăng?
Lời nói của hai người khách giữa cái am vắng vẻ, không dè có kẻ trộm nghe. Kẻ nghe trộm này là một con thằn lằn, đến ở am khi am vừa mới dựng lên, và đã từng nghe 999 lần kinh, nên có linh giác, nghe được tiếng người, biết suy nghĩ và phán đoán. Câu phê bình của hai người khách đã giúp cho con thằn lằn giác ngộ. Nó vốn biết nguyện vọng của nhà sư: là hễ tụng xong lần thứ một nghìn, thì nhà sư sẽ lên giàn hỏa mà tự thiêu…. Rồi nó nghĩ: nhà sư lòng còn mê tín, chưa được giác, phỏng có thiêu thân, thì làm sao nhập được Niết Bàn? Hay là ta tìm thế ngăn người, đừng để cho người thiêu thân, đợi chừng nào người được giác rồi sẽ hay?
Rồi con thằn lằn quyết định: Phải ngăn ngừa, đừng để nhà sư tụng xong lần thứ một nghìn. Nó nghĩ được một kế: Ấy là bò lên bàn Phật, đến dĩa đèn dầu, ráng sức mà uống cạn dĩa dầu. Bấc sẽ lụn, đèn tắt, nhà sư không thấy chữ mà tụng nữa.
Một sức mầu nhiệm đã giúp cho con thằn lằn đạt được ý nguyện: chỉ trong một hơi mà dĩa dầu đã cạn: bộ kinh chỉ tụng được quá nửa mà thôi. Đèn tắt, nhà sư ngạc nhiên, nhưng nghĩ: hai người khách là kẻ phàm tục, không được duyên lành chứng giám việc đắc đạo của mình. Âu là xếp kinh, nghỉ, chờ ngày mai khách lên đường, sẽ tụng lần thứ một nghìn ấy.
Nhưng, sau đó đêm nào cũng vậy, buổi đọc kinh chưa xong mà đèn lại tắt đi. Nhà sư có lúc tính tụng kinh lần này vào khoảng ban ngày, nhưng nhớ lại khi xưa đã có lời nguyện tụng kinh vào lúc khuya, tĩnh mịch, nên không dám đổi.
Và một đêm kia, dằn lòng không được, tuy tụng kinh mà mắt chốc chốc nhìn lên dĩa dầu để xem sự thể do đâu, nhà sư bắt gặp con thằn lằn kê mỏ mà uống dầu. Nổi giận xung lên, nhà sư dừng gõ mõ, và mắng rằng:
- Loài nghiệt súc! Té ra mi ngăn ngừa không cho ta được đắc đạo!
Rồi tay cầm dùi mõ, nhà sư nhắm ngay đầu con thằn lằn mà đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh vỡ đầu, chết ngay. Hôm ấy, nhà sư tụng xong lần kinh, bước lên dàn hỏa, tự châm lửa mà thiêu mình. 

3.
Và cũng đêm ấy, hai cái linh hồn được đưa đến trước tòa sen của Phật. Uy nghiêm, ngài gọi nhà sư mà dạy:
- Nhà ngươi theo cửa thiền từ thuở bé, mà chẳng hiểu bài học vỡ lòng của pháp ta là thế nào! Pháp ta đã dạy phải trừ hết dục vọng thì mới đắc đạo, mà ngươi dục vọng lại quá nhiều: bởi việc muốn đắc đạo, để được thành Phật kia cũng là một cái dục vọng. Có dục vọng ấy là Tham; bởi tham nên giận mắng con thằn lằn, ấy là Sân; bởi sân nên tưởng rằng trừ được con thằn lằn thì tha hồ tụng kinh, rồi đắc đạo, ấy là Si. Có đủ Tham Sân Si tất phải phạm tội sát sanh, thì dầu ăn chay trường trọn đời, cũng chưa bù được.
Tội ngươi lớn lắm, phải ráng tu luyện thật nhiều mới mong chuộc được. Vậy ta truyền cho Kim Cang, La Hán hốt cho hết đống tro do xác ngươi thiêu mà hóa ra, rồi đem tro ấy tung khắp bốn phương trời. Mỗi một hột tro đó sẽ biến sanh thành một người. Chừng nào mọi người ấy đắc đạo, đám chúng sanh ấy sẽ được quy nguyên, trở hiệp lại thành một, thì nhà ngươi sẽ đến đây mà thành chánh quả. Rồi Phật cho gọi hồn con thằn lằn mà dạy:
- Nhà sư chưa được giác mà làm tội, tội ấy đáng giá là một mà thôi. Còn nhà ngươi, được giác một phần rồi, mà làm tội, thì tội đáng kể là mười.
Con thằn lằn lạy mà thưa rằng:
- Bạch Phật tổ, lòng của đệ tử vốn là muốn độ nhà sư, dầu nát thân cũng không tiếc. Chẳng hay đệ tử có tội chi?
Phật phán:
- Muốn độ người, kể thiếu chi cách, sao ngươi ngăn đón việc tụng kinh của người? Đã đành rằng việc tụng làm của nhà sư là một việc mê tín, nhưng dầu là mê tín, song vẫn là một tín ngưỡng. Cõi Phật vốn là cõi tự tại. Nếu phạm đến tự do tín ngưỡng, gọi là để dắt người vào, thì làm sao cho được. Bởi ngươi không dùng phương pháp tự do, người là kẻ mất tự do, thì cả hai làm sao được vào cõi tự tại?
Một lần nữa, con thằn lằn được giác, quì lạy mà xin tội:
- Xin Phật tổ mở lòng từ bi, cho đệ tử hóa sanh một kiếp nữa, để dùng phương pháp tự do mà độ vô số chúng sanh do những hột tro, mà các vị Kim Cang, La Hán vừa tung ra đó.
Phật đáp:
- Ta cho ngươi được toại nguyện.
Hồn con thằn lằn vừa muốn lạy Phật mà đi đầu thai, thì sực nhớ lại, nên bạch rằng:
- Xin Phật tổ dạy đệ tử phải hóa sanh làm kiếp chi?
Phật đáp:
- Nhà ngươi đã gần bến giác, phải tự mình chọn hình thể mà hóa sanh. Tự do chọn lựa mới có thể luyện mình để bước vào cõi tự tại. 

4.
Hồn con thằn lằn từ ấy trôi theo mây gió, không biết trụ vào đâu, để có thể vừa dùng phương pháp tự do mà độ người, vừa có thể độ được đông người, số người đông như số hột tro do một cái xác thiêu ra. Thật chưa hề có lúc nào có một linh hồn bị trừng phạt phải đau khổ đến thế…..
Một hôm trong hồi xiêu bạt, hồn con thằn lằn thấy bóng của một trong hai người khách đã đến am thuở nọ, mà câu chuyện nghe lóm đã làm duyên cho mình mấy năm đau khổ.
Thằn lằn vội vã bay theo vái chào và kể nỗi niềm đau đớn:
- Ngài đã giúp cho tôi giác ngộ được một ít, có hay đâu tôi phải mang cái nghiệp vô định này. Đã trót làm ơn, xin độ cho tôi đến bờ bến.
Hai ông khách đáp:
- Chúng tôi đâu dám lên mặt thầy đời mà dạy người, huống chi lại dám đèo bồng mang lại một giải pháp cho một vấn đề nan giải.
Nhưng đã lỡ gieo trong trí ngươi một ý nghĩ làm cho ngươi phải khổ như bây giờ, thì phải góp ý kiến để cho ngươi suy xét mà gỡ rối. Ấy gọi là chuộc lỗi.
Hồn con thằn lằn gật đầu, cảm ơn trước. Một người khách nói:
- Chúng tôi đây là bọn chơi văn giỡn chữ, quanh năm chỉ lấy việc đem ý hay lời đẹp mà làm cho vui lòng kẻ đọc mình, rồi lấy sự vui của người làm sự sung sướng của mình, cho đó là sự “đắc đạo” của mình. Nếu phải mong muốn điều gì, thì cố gắng trình bày cho bóng bẩy, văn hoa: được thì tốt, bằng không thì thôi, chớ chẳng hề khi nào phạm đến tự do của người….
Nghe đến đó, thì một điểm linh quang bắt đầu hiện trong trí con thằn lằn. Người khách thứ hai nói tiếp:
- Xưa nay, trong bọn chúng tôi cũng được một vài tay lỗi lạc, kể một chuyện lý thú, hát một bài thơ hay, chuyện ấy thơ này được truyền ở hàng triệu miệng. Vậy, nếu ngươi có lòng muốn độ hằng hà sa số chúng sanh, thì cố gắng trau dồi văn tài cho tương xứng, văn ngươi tung ra là có thể cảm hoá triệu triệu người…. Rồi, cũng phải luyện văn tâm, để cho văn ngươi có thể nhen nhúm được trong lòng mỗi người một điểm lửa thiêng. Lửa bắt cháy, văn của ngươi như dầu rót thêm vào, làm cho ngọn lửa sáng lên….
Hồn con thằn lằn gật đầu ba cái để tạ ơn và nói rằng:
- Con đường ấy khó đi cho đến hết được, song chắc chắn là đi cùng đường, ắt có thể đến trước tòa sen mà chầu Phật tổ. Vậy tôi xin cố gắng.
Hồ Hữu Tường

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2011

Lòng biết ơn làm thay đổi cuộc đời

 

 Lòng Biết Ơn Làm Thay Đổi Cuộc Đời

 

 “Nếu ‘cám ơn’ là lời cầu nguyện duy nhất của bạn trong suốt cuộc đời, từng đó thôi đã đủ” (Meister Eckhart)
Thật đáng kinh ngạc vì sao một một hành vi đơn giản – một lời cám ơn dễ dàng có thể thay đổi cuộc đời của người ta nhiều đến vậy?
Một trong những điều tác động sâu sắc nhất đến cuộc đời tôi chính là sự nhận thức về sức mạnh to lớn của lòng biết ơn. Biết ơn hay tri ân: chỉ là cách dùng từ. Giản dị thôi bạn ạ: chỉ một lời cám ơn.
Sự tri ân đã ảnh hưởng đến mọi thứ trong đời tôi, đã biến tôi thành một người lạc quan, tích cực hơn nhiều. Tôi đã trở thành một người sáng tạo hơn, một người thành đạt hơn, một người chồng, cha, con, và anh, em tốt hơn (ít nhất tôi cũng nghĩ mình như thế). Và còn gì nữa? Một người hạnh phúc hơn. Mặc dù tôi chưa hoàn thiện, nhưng lòng biết ơn đã khiến tôi trở nên tốt đẹp hơn.
Lòng biết ơn có thể thay đổi cả cuộc đời tôi ư? Tôi có thể khẳng định điều này. Có thể bạn không có những thuận lợi giống như tôi, nhưng tôi quả quyết rằng lòng biết ơn giản dị ấy sẽ làm thay đổi cuộc đời của mọi người một cách tích cực và tức thời. Có bao nhiêu sự thay đổi khác đến trong đời ta nhanh chóng, dễ dàng, và sâu sắc như thế?
Hãy xem xét đôi điều mà lòng biết ơn có thể mang lại cho cuộc sống của bạn, và cách mà nó thay đổi cuộc đời bạn. Những ví dụ tôi đưa ra dưới đây, dựa trên kinh nghiệm bản thân, và của một số người tôi đã trò chuyện, có thể không hoàn toàn giống với cuộc đời của tất cả các bạn. Nhưng xin bạn hãy chọn những cách phù họp với mình.
1. Hãy dành một khoảng thời gian vào buổi sáng cho sự “tri ơn”
Xin dành một phút vào buổi sáng của bạn và biến một phút này thành một thói quen hàng ngày, để nhớ đến những người đã làm một điều gì đó tốt, đẹp cho bạn, và nghĩ đến tất cả những gì bạn chịu ơn trong cuộc đời mình. Bạn sẽ không nghĩ được hết mọi điều trong một phút, nhưng như thế cũng đủ rồi. Và một phút ấy sẽ ngay tức khắc làm cho ngày của bạn khởi sắc hơn, và giúp bạn bắt đầu một ngày nhẹ nhàng, đúng hướng. Bạn có nghĩ ra cách nào tốt hơn cho một phút ấy?
2. Khi bạn có một ngày khó khăn
Hãy lập một danh sách những gì trong đời mà bạn chịu ơn. Tất cả chúng ta đôi lúc không tránh khỏi một vài ngày không vui, những ngày mà chúng ta thức dậy với cảm giác nặng nề. Chúng ta quá căng thẳng vì công việc! Chúng ta bị ai đó nhăn nhó, hay nạt nộ! Chúng ta vừa mất một người thương! Chúng ta làm tổn thương người yêu! Chúng ta mất một hợp đồng bạc tỉ, hay dự án triển khai không vay được vốn đầu tư! Một trong những điều có thể làm cho một ngày “xấu”của ta khả quan hơn nhiều là nghĩ đến những thứ ta mang ơn trong đời. Ai trong chúng ta lại không chịu ơn nhiều người, và nhiều thứ: những người sinh thành, dạy dỗ ta, những người yêu thương giúp đỡ ta, sức khỏe, công việc ta đang làm, một mái nhà che nắng mưa, và quần áo ấm trong một ngày đông giá….? Và chính cuộc sống, từng ngày ta đang sống, chẳng đáng cho chúng ta tri ân sao?
3. Thay vì nổi giận với ai đó, hãy thể hiện lòng biết ơn
Đây là một sự thay đổi hành vi thật khác biệt - giống như một cái xoay mình 180 độ. Và không phải lúc nào ta cũng làm được như ta búng đồng xu vậy. Nhưng tôi cam đoan với bạn điều này rất tuyệt vời. Chẳng hạn, nếu bạn nổi nóng với anh bạn đồng nghiệp vì một điều gì đó, hãy kiềm chế để đừng bắn ra những lời nặng nề, gay gắt, hay phản ứng trong cơn thịnh nộ. Thay vào đó, hít vài hơi thở sâu, tự trấn tĩnh rồi dịu xuống.
Hãy nghĩ đến những lý do bạn biết ơn anh ấy. Anh ấy có làm một việc nào tốt cho bạn? Anh ấy đã từng giúp một ai khác? Hãy cố tìm một việc tốt nào đó, dù có khó khăn. Hãy tập trung vào những điều khiến bạn chịu ơn người ấy. Chẳng hạn, bạn có thể nghĩ về phần mềm diệt vi-rút rất hiệu quả mà anh ấy giới thiệu cho bạn, hay quyển sách anh ấy tặng lần trước. Chính điều này sẽ thay đổi cơn giận dữ lúc đó. Nếu bạn cảm thấy khá hơn, hãy thể hiện lòng biết ơn của bạn. Bạn có thể dần cải thiện được tính khí, quan hệ, và mọi việc sẽ nhẹ nhàng, khả quan hơn. Sau khi nói lời cám ơn, bạn có thể nhờ giúp đỡ: Xin anh ấy lần sau đừng xé bỏ giấy tờ quan trọng của bạn. Và điều bạn xin giúp đỡ theo sau lời cám ơn không phải là điều khó chấp nhận.
4. Thay vì chỉ trích người yêu, người chồng hay vợ của mình, hãy nói lời cám ơn
Giống như với người bạn đồng nghiệp, lòng biết ơn có thể thay đổi cuộc hôn nhân hay mối quan hệ của bạn. Nếu bạn không ngừng chỉ trích, phê phán người chồng/ vợ của mình, là bạn đang dần hủy hoại cuộc hôn nhân của mình. Tôi xin cam đoan với bạn điều này: Ai cũng cần nói ra những vướng mắc, nhưng không ai muốn bị phê bình mãi. Khi thấy lòng bực bội, chỉ muốn chì chiết cho hả giận, hãy cố ngưng lại, hít một hơi thở sâu. Cố gắng dịu xuống, nghĩ đến những gì người vợ/ chồng đã làm cho mình để thấy biết ơn. Nói lời cám ơn càng sớm càng hay. Mối quan hệ của bạn sẽ tốt đẹp hơn. Người vợ/ chồng bạn sẽ học điều này từ bạn - nhất là khi bạn thường xuyên thực hành. Tình yêu của bạn sẽ được nhân lên, và mọi chuyện sẽ thuận thảo, êm ái hơn.
5. Thay vì phàn nàn về con cái, hãy cám ơn các con
Nhiều bố mẹ (có cả tôi trong đó) hay tỏ ra chán nản với con mình. Nào là chúng quá chậm chạp, không làm được chuyện gì ra hồn. Hoặc chúng chưa ngoan: chúng không thể tự làm vệ sinh cá nhân, hay chúng cứ ngoáy mũi và cắn móng tay? Thật không may, nếu cha mẹ cứ trút những chán ngán lên đầu con trẻ, con cái sẽ cảm thấy mình tệ hại. Chuyện này thực không hay chút nào, nhưng quả thực là chuyện dài của các ông bố bà mẹ. Có một cách hay hơn: tuân theo phương pháp trên để bình tâm lại, và nghĩ đến những gì khiến mình phải cám ơn các con. Nói ra điều đó với các con. Sau đó tìm một dịp tốt để bảo ban, thay vì mắng mỏ, phê phán con cái.
6. Khi đối mặt với một trở ngại lớn, bạn phải cám ơn khó khăn này.
Nhiều người trong chúng ta thường xem những khó khăn trong công việc, trong cuộc sống là điều tệ hại. Nếu có gì đó trục trặc, bạn chỉ phàn nàn hay ca cẩm - làm thế chẳng giải quyết được gì! Thay vì than thở, hãy cám ơn những thách thức, trở ngại ấy bởi đó là cơ hội để bạn lớn lên, để học, và để biết cách làm tốt hơn. Điều này sẽ biến đổi bạn - từ một người hay than thở thành một người tích cực luôn đối mặt với khó khăn và hoàn thiện mình. Bạn sẽ được yêu mến hơn và bạn sẽ thành công hơn. Như thế, trở ngại không phải là điều tệ hại phải không?
7. Khi bạn gặp một bất hạnh, một tai họa, xin bạn hãy cám ơn vì bạn còn được sống
Gần đây tôi mất một người cô, và các con tôi mất đi một người bà. Các bi kịch, mất mát này có thể khiến ta bị thương tật nếu ta không vượt qua được. Bạn không thể nào không buồn thương - điều đó là điều phải làm vì bạn không là người vô cảm. Nhưng bạn có thể nghĩ thêm một điều gì khác, dễ chịu hơn nỗi bất hạnh này: hãy cám ơn đời - bạn còn được sống. Hãy cảm nhận vẻ đẹp mong manh của cuộc sống vô thường. Tình yêu người vẫn còn đó trong trái tim bạn. Xin hãy nhân cơ hội này thể hiện yêu thương với những người còn hiện hữu trong đời bạn. Và nhất là hãy vui sống đi khi bạn còn có thể.
8. Thay vì nghĩ suy, đau khổ về những gì bạn không có, hãy nhìn xem bạn có gì
Bạn đã bao giờ ngồi tính sổ và than thở “ Chao ơi, sao tôi có ít thế?”. Hay “ Sao tôi chưa có được ngôi nhà mơ ước?”, “ Sao mình vẫn chưa đổi được chiếc xe đời mới đẹp hơn?” hoặc “ sao người hàng xóm hay anh bạn cùng lớp mình có việc làm tốt thế, ăn mặc sang trọng, xài toàn những thứ đắt tiền nhất!”
Nếu thế, xin bạn hãy xem đây là lúc thích họp để bạn cám ơn cuộc đời và những gì bạn có. Thật dễ dàng khi bạn quên đi hàng tỉ người trên hành tinh này còn sống trong nghèo khổ - những người chưa có một mái nhà (dù lụp xụp) che nắng mưa hay manh áo ấm, chưa đủ cơm ăn, những người không có một chiếc xe máy và sẽ chẳng bao giờ có, những người không có một thứ tiện nghi, thiết bị hiện đại nào và thậm chí còn không biết đến tên các thứ ấy. Còn nữa: những người không có một việc làm, hoặc chỉ làm những việc lao động tay chân quần quật, nhọc nhằn: bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Xin bạn so sánh cuộc đời bạn với của họ, để cám ơn cuộc đời và những gì bạn đang có. Và hãy nhận ra rằng bạn đã có nhiều hơn sự đủ đầy, nhất là hạnh phúc không phải là một điểm đến của ngày mai, – hạnh phúc đang ở đây, trong những gì bạn có và trong lòng bạn.
“Mỗi ngày, hãy suy nghĩ khi tỉnh giấc: Hôm nay mình may mắn còn được sống. Mình có một cuộc sống quí giá, và mình sẽ không lãng phí nó. Mình sẽ dùng mọi khả năng để làm cho mình tốt đẹp hơn, sẽ mở rộng trái tim cho những người khác, sẽ học hỏi vì lợi ích của mọi người. Mình sẽ nghĩ tốt về tha nhân. Mình sẽ không nổi giận hay nghĩ xấu về ai. Mình sẽ làm hết sức thật nhiều điều tốt đẹp ích lợi cho người khác.”
 Đạt Lai Lạt Ma
Nguồn: FB Dieu Minh