Thứ Năm, 10 tháng 11, 2011

Tầm quan trọng của đời sống tâm linh


TẦM QUAN TRỌNG 
CỦA ĐỜI SỐNG TÂM LINH
Chánh Tuân 

I.      DẪN NHẬP:
Cuộc sống chúng ta với nhiều bận rộn: nào ăn mặc, học hành, làm việc, giải trí, v.v.. Trong cuộc sống ấy, đôi lúc tự mình suy nghĩ chúng ta sống như vậy, làm việc như vậy để làm gì? Để thỏa mãn cuộc sống vật chất hay còn phải có một cái gì khác hơn, chẳng hạn như đời sống tinh thần, đời sống tâm linh để bù đắp chỗ trống do cuộc sống vật chất không đem lại được. Mỗi người chúng ta với đời sống tinh thần hay tâm linh đó sẽ như thế nào?

II.   NỘI DUNG:
1.    Thế nào là đời sống tâm linh?
Đời sống hằng ngày của chúng ta có thể chia thành hai phần: đời sống vật chất và đời sống tinh thần.
-   Đời sống vật chất: đó là đáp ứng những nhu cầu thiết yếu hằng ngày như: ăn mặc, đi lại, làm việc, nghỉ ngơi, giải trí v.v…
-   Đời sống tinh thần là những gì không thuộc về vật chất như suy nghĩ, trăn trở, hay là niềm tin: tin ở bản thân mình, tin ở tương lai... Sự tin tưởng vào vô hình, tin vào những cái mà con người chưa với tới được, không lấy lý trí con người để xét đoán được; hay là niềm tin tôn giáo, tức là đức tin: tin đức Phật từ bi gia hộ, tin vào Chúa cứu thế, tin vào đức Thượng Đế và các đấng Thiêng liêng, đây có thể gọi là đời  sống tâm linh của con người.
Như vậy sự hồi hướng và luôn có đức tin về Thượng Đế và các đấng Thiêng liêng Phật Tiên Thánh Thần, cửu huyền thất tổ là những hoạt động mang tính chất tâm linh của con người. 
2.    Tại sao con người chúng ta cần phải có đời sống tâm linh?
Trước tiên chúng ta hãy cùng tìm hiểu khái quát về sự vĩ đại Vũ Trụ để thấy được sự mầu nhiệm của đấng Tạo hóa. Từ đó sẽ giúp chúng ta hình thành nên đức tin vững chắc nơi Đức Thượng Đế Chí Tôn và các đấng Thiêng liêng.
Chúng ta biết rằng trong Vũ Trụ này có vô vàng các hành tinh (trong đó có rất nhiều hành tinh lớn gấp trăm, gấp vạn lần mặt trời), tất cả đều tuân theo định luật vạn vật hấp dẫn, đều tuần hoàn luân chuyển theo một quy luật nhất định, rất hiếm khi xảy ra sự va chạm nghiêm trọng nào để rồi Vũ Trụ phải đi vào cơ tận diệt.
Trái đất chúng ta luôn đón nhận được rất nhiều đặc ân từ Tạo hóa mới có được sự sống sinh động và thật mầu nhiệm! Từ việc mưa thuận gió hòa, ánh sáng mặt Trời luôn ấm áp chiếu soi và nguồn dinh dưỡng chất trên trái đất luôn dồi dào, phong phú… đặc biệt là cơ chế tạo nên mầm sống của Tạo hóa thật mầu nhiệm trong muôn vật (dù khoa học kỹ thuật có tiến bộ đến đâu đi nữa thì con người cũng không thể nào tạo ra được mầm sống đó) đã giúp cho vạn vật có được những điều kiện vô cùng lý tưởng để sinh sôi nảy nở, tạo thành ngàn giống muôn tên, thiên hình vạn trạng…
Tất cả những sự kiện trên chúng ta không thể chủ quan cho rằng những điều này chỉ xảy ra một cách ngẫu nhiên mà không có sự điều hành mầu nhiệm từ bàn tay vô hình của Đức Thượng Đế và các đấng Thiêng liêng.
Từ những chiêm nghiệm trên sẽ giúp cho chúng ta tin rằng phải có một bàn tay vô hình của đấng chúa tể Càn Khôn thống ngự, điều hành toàn thể vũ trụ, từ đó chúng ta có được một đức tin vững chắc về Thượng Đế và các đấng Thiêng liêng.
Mặc khác, trong mỗi con người chúng ta luôn sẵn có một linh tánh thiêng liêng hơn vạn vật, biết đâu là phải, đâu là trái, đâu là thiện ác, đâu là tội phước, đâu là liêm sỉ, đâu là không liêm sỉ, biết gìn giữ lễ nghi và sống có nhân, có nghĩa.
Trong kinh sám hối có câu:
“Con người có trí khôn ngoan,
Tánh linh hơn vật, biết đàng lễ nghi”
Nhờ có đời sống tinh thần này mà con người mới đứng vào phẩm tối linh, đứng vào hàng tam tài, sánh cùng trời đất. Nhận thức được điều này sẽ làm cho con người sống sao cho xứng đáng với vị trí của mình hơn, sống đúng “người” hơn với bản chất tự nhiên, thiên bẩm mà Trời phú cho, đó là lòng thương yêu giữa con người với con người, lòng thương yêu muôn loài, lòng trắc ẩn, tính vị tha, v.v.  Cái Trời cho đó chúng ta thường gọi là “lương tâm” và khi con người không còn giữ được nó thì không còn là “người” nữa, lúc đó họ chỉ mang xác con người nhưng lòng của thú vật.
Ngoài ra, một khi đã học hiểu hết một đôi phần về đạo lý, từ vũ trụ quan đến nhân sinh quan, được một vài yến sáng rọi trong tâm hồn, con người sẽ thấy được cõi đời là giả tạm. Một kiếp làm người tuy nói rằng ước định là trăm năm, nhưng trong chuỗi đời ba vạn sáu ngàn ngày là mấy ai tròn hưởng. Tấm thân tứ đại quanh năm ngày tháng mãi quay cuồng trong chỗ lo nghĩ buồn vui cùng sướng khổ. Nhưng hỏi lại có mấy ai được trong cảnh buồn ít vui nhiều, quẩn quẩn quanh quanh trong chỗ đủ thiếu, giàu nghèo. Bảy tám mươi cũng gọi một đời mà năm ba tuổi cũng cho là một kiếp, lẽ vô thường nào đâu có hẹn với con người sự dài ngắn rủi may. Nếu con người không có đời sống tâm linh thì ngày qua ngày chỉ quanh quẩn lo sống, ăn, mặc, ở, già, bệnh và chết. Cuộc sống như vậy sẽ mất đi ý nghĩa và giá trị thật sự của nó. Con người sẽ luôn cảm thấy bất an, đau khổ, trong cuộc sống luôn phải chạy theo vật chất bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được tham vọng của mình để rồi vô tình gieo tạo biết bao nghiệp quả mà không biết đến khi nào mới trả xong. Từ đó con người mới nảy sanh ra một ý niệm là tạo những điều kiện tối cần cho phần thể chất để sống trong nếp sống tương đối, còn bao nhiêu thời giờ lo tạo lập những điều kiện cho đời sống tâm linh, gieo hột giống lành cho kiếp tương lai, làm công quả cho vững móng nền âm chất.
Từ những phân tích trên, chúng ta nhận thấy được đời sống tâm linh là rất thiết cần đối với mỗi người chúng ta.
3.    Những ích lợi từ đời sống tâm linh mang lại:
3.1 Là chỗ dựa tinh thần vững chắc, giúp thân tâm luôn an lạc, luôn vững vàng trước mọi khó khăn nghịch cảnh và luôn đón nhận được sự hộ trì soi dẫn của các đấng Thiêng liêng:
Chúng ta biết rằng nếu không có đời sống tâm linh, không có niềm tin nơi luật công bình của đấng Hóa Công thì khi gặp một biến cố nào đó tương đối nghiêm trọng hoặc phủ phàng xảy đến thì con người sẽ rất dễ dàng bị suy sụp tinh thần, mất bình tĩnh, đau khổ và bất an. Con người sống trên cõi thế gian này luôn phải chứng kiến biết bao lẽ vô thường của cuộc sống, hôm nay mới thấy cười nói vui vẻ nhưng ngày hôm sau bổng nhiên bất ngờ bị đột tử và có rất nhiều rủi ro luôn rình rập chúng ta như tai nạn giao thông, thiên tai, hỏa hoạn, bệnh tật… Dù muốn hay không muốn thì rủi ro vẫn có thể xảy đến với chúng ta bất cứ lúc nào. Ví như có một người thanh niên nọ đang sống một cuộc sống rất hạnh phúc trong một gia đình với vợ đẹp, con ngoan nhưng vào một ngày bất hạnh nào đó cả vợ và con anh ta bị tai nạn giao thông khiến cả hai phải vĩnh viễn không còn gặp lại anh nữa. Nếu không tin luật nhân quả, không tin có các đấng Thiêng liêng thì chúng ta sẽ dễ dàng hình dung được tâm trạng của người thanh niên ấy sẽ bị khủng hoảng nghiêm trọng và đau khổ đến dường nào. Chỉ khi nào người thanh niên ấy thấu hiểu được luật nhân quả và có được đức tin vững chắc nơi Thượng Đế và các đấng Thiêng liêng thì mới có thể giúp cho anh ta luôn giữ vững được tinh thần, vững vàng trước mọi khó khăn nghịch cảnh.
Mặc khác, nhờ có đời sống tâm linh sẽ giúp chúng ta luôn hồi hướng cầu nguyện về sự hộ trì che chở của các đấng Thiêng liêng để giúp chúng ta vượt qua được những vô thường của cuộc sống.
Tuy nhiên cũng rất có thể những sự thật phủ phàng trong cuộc sống vẫn sẽ xảy đến với chúng ta cho dù chúng ta đang có một đời sống tâm linh vững chắc và luôn cầu nguyện sự hộ trì che chở của Ơn Trên. Nếu thật sự gặp phải trường hợp này thì chúng ta cũng nên vui vẻ chấp nhận và đừng đánh mất niềm tin nơi các đấng Thiêng liêng mà hãy tin rằng một khi chúng ta sống trong cõi thế gian này đều phải chấp nhận bị chi phối bởi luật nhân quả và quy luật sanh lão bệnh tử của cuộc sống. Nếu như không bị chi phối bởi những quy luật trên thì ai cũng muốn trường sanh bất lão, trẻ mãi không già, không ốm đau, bệnh tật, vui nhiều buồn ít nhưng cuộc sống không bao giờ được hoàn toàn như ý mình cả.
Nếu có ai đó tự cho mình là tài giỏi nhất, không tin có các đấng Thiêng liêng vô hình, không sợ luật nhân quả… nhưng cuối cùng người này cũng không thể vượt qua được sự chi phối của luật nhân quả cũng như không thoát được quy luật sinh tử của Tạo hóa, tấm thân tứ đại rốt rồi cũng phải trả về cho tứ đại. Dù muốn dù không thì chắc chắn một điều họ bắt buộc phải trải qua quy luật: sanh, lão, bệnh, tử. Ví như các vị vua thời xưa đứng trên thiên hạ, cầm quyền sanh sát trong tay nhưng cũng không thể nào vượt qua được qui luật đó. Ngay cả Tề Thiên Đại Thánh đã từng tung hoành ngang dọc, thần thông quảng đại, có thể hô phong hoán vũ nhưng cũng không thể thoát được ra khỏi lòng bàn tay của Đức Phật Tổ thì con người như chúng ta chắc chắn cũng sẽ bị chi phối bởi những quy luật đó.
3.3 Giúp tu tâm dưỡng tánh, rèn luyện tác phong đạo hạnh:
Nhờ có đời sống tâm linh, có đức tin nơi các đấng Thiêng liêng vô hình, nhờ tin vào luật nhân quả ở đời sẽ giúp cho chúng ta có một lối sống cao đẹp, luôn giữ gìn quy giới, rèn luyện tác phong đạo hạnh thật nghiêm túc, không dám gây thêm nhiều tội lỗi nghiệp báo, noi gương đức hạnh của các đấng Thiêng liêng. Từ đó sẽ giúp cho chúng ta ngày một hoàn thiện hơn, xã hội sẽ ngày càng tốt đẹp hơn.
3.4 Biết sống hướng tha, mở rộng tình yêu thương đối với mọi người:
Nhờ có đời sống tâm linh, chúng ta mới nhìn nhận mọi người đều là huynh đệ của nhau, đều là con chung của đức Thượng Đế Chí Tôn. Từ đó sẽ khơi dậy tình thương yêu trong mỗi người, luôn nghĩ đến tha nhân, không còn ích kỷ khi chỉ biết sống cho riêng mình, luôn tích cực làm công quả để giúp khó trợ nghèo…



3.5     Giải thoát tâm linh:
Nhờ có đời sống tâm linh sẽ giúp cho chúng ta dần giải thoát tâm linh thông qua thực hành các pháp môn công phu thiền định để trở về với quê xưa vị cũ: như hành trì bửu pháp luyện châu, thọ trì pháp môn tâm pháp bí truyền…
4.    Phương pháp thực hiện đời sống tâm linh:
Quỳ hương cúng nước hàng ngày, hằng niệm danh hiệu Thầy và các đấng Thiêng liêng, hành trì Kinh Hôm, Kinh Mai và các bài kinh nhật tụng khác như Kinh Cứu Khổ, Kinh Sám Hối, Kinh Cầu An, Kinh Cầu Nguyện Phước Thiện… Từ đó sẽ giúp cho chúng ta  luôn có được sự cảm ứng nơi Thầy Mẹ và các đấng Thiêng liêng, giúp cho đời sống tinh thần ngày thanh cao, hướng thượng. Nhờ hành trì các bài kinh nhật tụng sẽ giúp cho chúng ta hiểu được ý nghĩa từ những lời dạy của các bài kinh từ đó chúng ta sẽ sống và làm theo những lời dạy đó.
Hành trì giới luật của đạo Cao Đài như giữ gìn tam quy, ngũ giới, 24 điều thế luật, tứ đại điều quy…Nhờ hành trì giới luật sẽ giúp cho chúng ta ngày một hoàn thiện bản thân hơn, từ đó hình thành nên nhân cách của người tín đồ Đại Đạo có đầy đủ tâm, hạnh, đức, tài.
Thường xuyên đọc Thánh Ngôn, Thánh Giáo, Thánh Kinh Hiền Truyện để rèn luyện tác phong đạo hạnh theo những lời dạy của Ơn Trên, thể hiện được gương sống đạo để mọi người noi theo.
Tham gia các khóa học giáo lý do Họ Đạo tổ chức, vào các ngày đàn lệ Sóc, Vọng thì về Thánh thất dâng lễ và nghe thuyết giảng giáo lý.
Tích cực làm công quả  để bổ trợ cho công phu thiền định sau này như làm từ thiện, giúp người miếng cơm, manh áo trong lúc người hoạn nạn, giúp người cô thế tật nguyền, v.v. , tập tấm lòng từ bi thương người như thể thương thân, vừa giúp người, vừa tích âm chất cho chính mình.
Công phu tịnh luyện để giải thoát tâm linh như thực hành bửu pháp luyện châu, thọ tâm pháp bí truyền… Đây chính là đời sống tâm linh rất quan trọng mà mỗi người tín đồ Cao Đài chúng ta phải hướng đến.

III.           KẾT LUẬN
Thế gian là trường tiến hóa, con người đến chốn này để tu học và hành đạo nhằm tiến hóa tâm linh và thuận theo cơ tiến hóa của Trời đất. Con người đến thế gian không phải để hưởng thụ vật chất thật nhiều, vun đắp cho bản thân thật đầy đủ. Suy cho cùng, con người giàu có bao nhiêu đi nữa, thì cũng ăn cũng mặc có giới hạn mà thôi, niềm vui sướng nơi thế gian cũng qua đi chóng vánh, và rồi nghiệp quả bản thân lại chồng chất thêm lên. Vì thế, hạnh phúc đích thực của đời người chính là những gì con người giúp đỡ cho kẻ khác, lập công bồi đức, lo tạo lập những điều kiện cho đời sống tâm linh, gieo hột giống lành cho kiếp tương lai, làm công quả cho vững móng nền âm chất, trì hành pháp môn công phu để thoát khỏi luân hồi sanh tử.
Do vậy đời sống tâm linh là một mặt không thể thiếu được trong cuộc sống của mỗi người chúng ta.
Chánh Tuân

Nói xấu người khác và những hậu quả


NÓI XẤU NGƯỜI KHÁC VÀ NHỮNG HẬU QUẢ

Nhiều người có thói quen ưa nói lỗi lầm của người khác. Và đôi khi chính họ không nhận thấy thói quen ấy và chỉ nhận diện được nó sau khi đã nói xong. Vậy thì động cơ ở đằng sau việc nói lỗi lầm của người khác, đằng sau xu hướng muốn hạ thấp người khác là gì?
Lúc chúng ta tức giận người khác là lúc chúng ta thường nói xấu họ. Trong trường hợp này chúng ta có thể nói lỗi của người khác vì một vài nguyên do khác nhau. Đôi khi chúng ta nói xấu người khác để kéo mọi người đứng về phía mình. Chúng ta nghĩ rằng, nếu ta kể cho mọi người nghe về sự tranh luận giữa ta với anh A rồi thuyết phục mọi người rằng anh A sai và mình đúng. Như thế thì mọi người sẽ đứng về phía chúng ta. Chính vì ý nghĩ rằng: “Nếu mọi người nghĩ mình đúng thì chắc hẳn là mình đúng”. Việc tự nghĩ rằng mình đúng như thế ấy là một việc làm KÉM CỎI trong khi chúng ta không chịu dành thời gian để đánh giá một cách trung thực đối với những việc làm và động cơ của chúng ta.
Có khi chúng ta nói xấu người khác vì chúng ta ganh ghét họ. Chúng ta muốn được mọi người tôn trọng và đánh giá cao như người kia vậy. Chiêu bài mà chúng ta dùng để giành lấy sự tôn trọng và đánh giá cao của người khác theo cách này có rất khó mang lại hiệu quả.
Nói xấu người khác đem đến những hậu quả gì? 
@ Trước hết, chúng ta sẽ được biết đến như là một người thường gây ra sự bất hòa. Người ta sẽ không muốn tâm sự với chúng ta vì họ sợ là chúng ta sẽ nói với người khác. Theo kinh nghiệm cá nhân, tôi nhận thấy rằng người nào hay nói xấu người khác với tôi thì chắc hẳn họ sẽ đi nói xấu tôi với người khác. Hay nói cách khác, tôi không tin tưởng những ai thường hay phê bình người khác.
@ Thứ hai, chúng ta phải đối mặt với người bị chúng ta nói xấu khi họ phát hiện ra những gì chúng ta đã nói, và phiền phức hơn là lúc họ nghe được những gì chúng ta đã nói xấu về họ thì những điều đó đã bị phóng đại lên nhiều lần. Người đó có thể nói với người khác về lỗi của mình để trả đũa.
@ Thứ ba, chính bản thân ta cũng không có hạnh phúc khi mình luôn phanh phui lỗi của người khác. Khi chúng ta tập trung vào những điểm tiêu cực, hoặc là những sai lầm, chính tâm của chúng ta cũng không có an vui. Những ý nghĩ rằng người này xấu, người kia không tốt,... thường không có lợi cho tinh thần của chúng ta.
Người khôn ngoan và biết cách sống là người hạn chế và dứt hẳn tật nói xấu người khác vì nếu ta nói đúng sự thật thì không ai cho đồng nào nhưng nếu nói sai, nói xấu người khác thì mang họa vô thân. Nên tốt nhất từ nay xin học cách KHÔNG NÓI XẤU NGƯỜI KHÁC.
Nguồn: FB Trí Thông Như

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

Lương Tâm


Lương Tâm 


Có hai người phụ nữ tìm đến một vị đạo sĩ rất nổi tiếng là nhân đức và thánh thiện để xin một vài lời khyên bảo về con đường nhân đức.
Người phụ nữ thứ nhất mang trong mình mặc cảm tội lỗi. Bà luôn nghĩ mình là một tội nhân, vì hồi còn trẻ, trong những năm chồng bà đi làm xa, bà đã thất trung với chồng. Nhưng rồi bà đã ăn năn thống hối và tiếp tục sống một cuộc sống gương mẫu trong vai trò làm mẹ cũng như làm vợ. Dầu vậy, bà vẫn không bao giờ quên được tội lỗi nặng nề ấy và lương tâm bà vẫn áy náy không yên.
Người phụ nữ thứ hai cảm thấy mình là người chính trực, vì luôn sống theo luật Chúa. Lương tâm bà bình an và không khiển trách gì bà.
Nhà đạo sĩ kiên nhẫn lắng nghe mỗi bà dốc cạn nỗi lòng. Người phụ nữ thứ nhất nức nở kể lễ và ân hận vì tội lỗi của bà quá nặng nề không thể nào được Chúa thứ tha. Trái lại, người phụ nữ thứ hai cảm thấy mình chính trực không có tội gì phải xưng thú cả. Nhà đạo sĩ liền nói với người phụ nữ thứ nhất:
Bà hãy đi tìm một hòn đá thật lớn mà sức bà có thể khiêng được đem tới đây cho tôi.
Quay sang người phụ nữ thứ hai, nhà đạo sĩ nói:
Bà hãy đi nhặt những hòn đá thật nhỏ nhiều bao nhiêu bà có thể mang được trong cái khăn choàng vai của bà rồi đem tới đây cho tôi.
Hai người phụ nữ liền mau mắn thi hành lời vị đạo sĩ dạy bảo.
Người phụ nữ thứ nhất khệ nệ đem tới một hòn đá thật lớn. Còn người thứ hai với cái khăn đầy cả trăm viên đá sỏi nhỏ. Nhà đạo sĩ mĩm cười nói với hai bà:
Bây giờ tôi xin hai bà làm thêm một việc khác nữa, là các bà hãy đem trả hòn đá lớn cũng như những viên đá sỏi nhỏ kia trở về đúng chỗ cũ của nó. Ðiều quan trọng là phải đúng với chỗ mà các bà đã nhặt nó.
Một lần nữa, hai người phụ nữ mau mắn thi hành mệnh lệnh của nhà đạo sĩ. Người phụ nữ thứ nhất tìm ngay được chỗ cũ của hòn đá mà bà đã lấy bởi vì chỉ có một hòn duy nhất. Trái lại, người phụ nữ thứ hai loanh quanh lẩn quẩn cả giờ, nhưng vô ích, bởi vì bà không tài nào mà nhớ hết được đúng chỗ của mỗi viên đá sỏi ấy. Bấy giờ bà đành trở lai với cái khăn choàng vai đầy những viên đá sỏi nhỏ ấy.
Vị đạo sĩ nói với người phụ nữ thứ nhất:
Bà đã đem trả lại chỗ cũ của hòn đá đó một cách dễ dàng. Cũng một cách tương tự, với tội lỗi của bà, bà đã biết khiêm nhường nhìn nhận tội lỗi mình nặng nề và đã thành tâm ăn năn thống hối, bà đã được Thiên Chúa thương tha thứ cho bà, bây giờ bà không nên lo lắng áy náy chi nữa.
Quay sang người phụ nữ thứ hai vị đạo sĩ nói tiếp:
Còn bà như đã không thể trả lại được chỗ cũ của những viên đá sỏi, bà cũng không nhìn thấy được các lỗi lầm nho nhỏ để ăn năn thống hối.
Ngọc Nga sưu tầm
Nguồn: FB Le Noelle

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Các phương pháp ghi nhớ


Các phương pháp ghi nhớ

Muốn học bài mau thuộc nhất thiết phải học có phương pháp. Qua các chương trước chúng tôi đã trình bày một số phương pháp để giúp bạn trong việc học bài sao cho mau thuộc. Trong chương này xin hướng dẫn bạn đi sâu vào chi tiết hơn khi thực hiện các phương pháp ấy.
1. Ghi thành dàn bài:
Thực tế có nhiều bạn chỉ nghe nói ghi dàn bài, nhưng chưa rõ phương thức ghi cụ thể ra sao.
- Trước tiên bạn đọc toàn bài môn bạn đang học 1 lần - 2 lần - hoặc cũng có thể là 3 lần. Ðến lúc bạn nắm chắc yêu cầu bài mới thôi. Vì có hiểu sơ bộ bài, bạn mới lập được dàn bài. Bạn chia nội dung toàn bài thành 3 phần chính (Ví dụ là A - B - C). Trong phần A - có nhiều mục nhỏ, bạn có thể sắp xếp các mục nhỏ ấy gọi là “tiêu đề” bằng những chữ số:1, 2, 3...
- Và tiếp theo các phần B - C cũng thế. Phần nào cũng có những tiêu đề riêng.
- Nhưng trong mỗi phần đều có những yêu cầu quan trọng của nó. Bạn nên ghi nhận cụ thể các phần quan trọng ấy trong mỗi phần của dàn bài, có thể gạch dưới hoặc viết đậm để dễ nhớ.
- Ðã có dàn bài chi tiết rồi sẽ là điều kiện giúp bạn dễ dàng việc học bài sau đó.
2. Nhẩm trong óc:
Bạn hệ thống bài bằng cách “nhẩm trong óc”, nhẩm từng phần một của dàn bài, chỗ nào quên bạn dừng lại, lật dàn bài ra xem lại. Bạn cứ tiếp tục nhẩm sang phần khác và đừng quên các phần quan trọng đáng ghi nhớ, đừng bỏ sót một chi tiết nào. Lần lượt như vậy cho đến hết toàn bài.
- Lần thứ hai, bạn bắt đầu nhẩm lại tất cả có hệ thống toàn bài hơn.
- Lần này bạn ghi nhận phần đã bị quên. Bạn mở sách xem lại, ghi ra giấy hoặc đánh dấu những phần đó. Bạn tìm ý những chỗ quên sót để rồi học lại cho nhuần nhuyễn.
- Lần thứ ba, bạn hệ thống lại bài và bạn đặt thành câu hỏi rồi tự giải quyết trong óc câu hỏi ấy. Bạn xem lại việc trả lời có thông suốt phân minh chưa. Nếu chỗ nào vướng mắc lật dàn bài ra xem.
* Một bài học gọi là được nắm chắc là khi bạn:
- Có kỹ năng trả lời gãy gọn các câu hỏi đặt ra.
- Hiểu bài thông suốt từng phần cũng như toàn bài.
- Nắm vững trọng tâm bài học một cách chuẩn xác. Nếu là môn học như Toán - Lý- Hóa- Sinh thì các quy tắc các công thức, các định lý, định đề... bạn phải thuộc thật nhuần nhuyễn mới được.
Môn Văn: Cần ghi nhớ các tên và tiểu sử tác giả. Thuộc kỹ các bài thơ, các đoạn văn xuôi, chọn lọc và nhớ bài thơ này của tác giả nào, bài văn kia tác giả là ai. Tránh tình trạng lộn xộn, lẫn tên tác giả này với tác giả khác, hoặc bài văn xuôi mà lại ghi tên tác giả là một nhà thơ v.v...
Các phần văn xuôi hay thơ, bạn đều phải nắm bố cục chặt chẽ, chủ đề tư tưởng và nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng. Ngoài ra bạn nên trích dẫn những đoạn văn hay, bài thơ hay, ghi vào sổ tay bạn để dễ học thuộc. Thuộc nhiều thơ văn để tạo vốn từ phong phú khi làm bài.
Môn Sử, Ðịa: Cần nắm rõ đặc thù từng môn để dễ học.
- Sử: Cần nhớ chính xác các mốc thời gian của sự kiện và luyện cách phân tích tổng hợp để rút ra được những bài học lịch sử một cách chính xác.
- Ðịa: Nắm rõ đặc điểm địa thế từng bước từng vùng, tên sông, tên núi, nguồn tài nguyên khoáng sản.v.v...
3. Ghi ra giấy:
Ngoài cách ghi thành dàn bài chi tiết, bạn có thể ghi riêng ra giấy. Nhất là những công thức, những định lý, định đề. Từ giấy xếp lại bỏ túi để lâu lâu khi cần nhẩm lại, nếu quên bạn có thể mở ra xem.
Nhưng phải ghi bằng cách nào?
Ghi những điểm chính yếu nhất, còn điều quan trọng là bạn phải học thuộc.
Nói tóm: Khi ghi bạn chỉ tóm tắt phần quan trọng, sao cho khi mở trang giấy ra nhắc nhở bạn hệ thống bài học bằng trí nhớ và một cách hoàn hảo mà không cần mở sách.
Tránh ghi rườm rà, dư thừa, vừa mất thời an vô mà ích lại phí sức.
Nói chung làm thế nào để bạn có thể tổng hợp các phương pháp (nhẩm nhớ - ghi chép - và lập dàn bài) sao cho tạo được điều kiện để bạn đọc bài mau thuộc đó là đíều quan trọng nhất.
Một điểm nữa là bạn phải hết sức sử dụng các phương pháp ấy thật hài hòa và kết hợp chặt chẽ để việc học tập của bạn có kết quả mỹ mãn theo ý muốn.
Không nhất thiết phải áp dụng tất cả các phương pháp mà tùy khả năng vận dụng cho phù hợp.
Nguồn: kynang.edu.vn

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2011

30 nguyên tắc vàng trong đối nhân xử thế


30 nguyên tắc vàng trong đối nhân xử thế

1.  Nguyên tắc 1: Không chỉ trích, oán trách hay than phiền.
2.   Nguyên tắc 2: Thành thật khen ngợi cảm kích người khác.
3.  Nguyên tắc 3: Khơi gợi người khác ý muốn thực hiện điều bạn đề nghị họ làm.
4.   Nguyên tắc 4: Chân thành quan tâm người khác.
5.   Nguyên tắc 5: Mỉm cười.
6.  Nguyên tắc 6: Luôn nhớ rằng tên một người là âm thanh êm đềm, ngọt ngào và quan trọng nhất đối với họ.
7.  Nguyên tắc 7: Lắng nghe người khác. Khuyến khích người khác nói về họ.
8.  Nguyên tắc 8: Nói về điều mà người khác quan tâm.
9.  Nguyên tắc 9: Thành thật cho người khác thấy sự quan trọng của họ.
10.  Nguyên tắc 10: Cách giải quyết tranh cãi tốt nhất là đừng để nó xảy ra.
11. Nguyên tắc 11: Tôn trọng ý kiến của người khác. Đừng bao giờ nói “Anh/chị sai rồi”
12.  Nguyên tắc 12: Nếu bạn sai, nhanh chóng và thẳng thắn thừa nhận lỗi lầm.
13.  Nguyên tắc 13: Luôn bắt đầu bằng một thái độ thân thiện.
14. Nguyên tắc 14: Hỏi những câu hỏi khiến người khác đáp “vâng, có” ngay lập tức.
15. Nguyên tắc 15: Tạo điều kiện để người khác được nói thỏa thích.
16. Nguyên tắc 16: Làm người khác tin rằng chính họ là người đưa ra ý tưởng đầu tiên.
17. Nguyên tắc 17: Thành thật nhìn nhận vấn đề theo quan điểm của người khác.
18.  Nguyên tắc 18: Đồng cảm với mong muốn và chia sẻ của người khác.
19.  Nguyên tắc 19: Khơi gợi sự cao thượng ở người khác.
20.   Nguyên tắc 20: Làm sinh động ý tưởng.
21.  Nguyên tắc 21: Thách đố, khơi gợi sự thử thách ở người khác.
22.  Nguyên tắc 22: Bắt đầu bằng những lời khen tặng thành thật.
23.  Nguyên tắc 23: Góp ý sai lầm của người khác một cách gián tiếp.
24. Nguyên tắc 24: Xem xét, nhìn nhận và đánh giá bản thân trước khi góp ý cho người khác.
25.  Nguyên tắc 25: Đặt câu hỏi gợi ý thay vì đưa ra mệnh lệnh.
26.  Nguyên tắc 26: Giữ thể diện cho người khác.
27. Nguyên tắc 27: Nhìn nhận sự nổ lực đóng góp của người khác một cách công bằng, cho dù đó là những đóng góp nhỏ nhất. Động viên, khuyến khích bằng sự chân thành và hưởng ứng nhiệt tình của bạn.
28.  Nguyên tắc 28: Khen ngợi để người khác luôn phấn đấu xứng đáng với lời khen đó.
29. Nguyên tắc 29: Khuyến khích người khác, làm cho họ thấy sai lầm không khó để chỉnh sửa.
30.  Nguyên tắc 30: Làm cho người khác cảm thấy vui vẻ thực hiện chính đề nghị của bạn.
Phuoc Long sưu tầm

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2011

Chia sẻ


CHIA SẺ

Một thanh niên trẻ tốt nghiệp đại học một cách xuất sắc nộp đơn xin vào chức vị quản lý nhân sự cho một công ty lớn. Anh đã vượt qua vòng phỏng vấn đầu tiên, và vị giám đốc đang phỏng vấn anh vòng cuối để có quyết định cuối cùng. Vị giám đốc phát hiện ra anh thanh niên này có kết quả rất xuất sắc trong suốt những năm học từ tiểu học đến đại học, trong học bạ không năm nào anh không được thành tích cao.
Vị giám đốc hỏi:
- “Anh được học bổng trong trường phổ thông phải không?”.
Người thanh niên trả lời:
 - “Thưa không”
 - “Vậy chắc cha anh đã trả tiền học phí cho anh?”
 - “Cha tôi đã mất khi tôi lên một tuổi, mẹ tôi đã trả toàn bộ học phí”
 -“Mẹ anh làm gì, ở đâu?”
 -“Mẹ tôi làm thợ giặt”
 Vị giám đốc yêu cầu anh chìa đôi bàn tay ra. Anh đưa đôi bàn tay ra, một đôi tay mịn màn và hoàn hảo.Vị giám đốc hỏi:
 - “Trước đây anh có bao giờ giúp mẹ anh giặt đồ không?”
 - “Không bao giờ, mẹ tôi luôn muốn tôi học hành và đọc sách nhiều hơn. Hơn nữa, mẹ tôi có thể giặt nhanh hơn tôi”. Anh đáp.
Vị giám đốc nói: “Tôi có một yêu cầu. Khi anh về nhà hôm nay, hãy đi rửa tay cho mẹ anh rồi hãy đến gặp tôi vào sáng ngày mai”
Người thanh niên cảm thấy cơ hội kiếm được công việc này khá cao. Khi về nhà, anh sung sướng yêu cầu mẹ mình cho anh được rửa đôi tay của bà. Mẹ anh cảm thấy rất ngạc nhiên, và hạnh phúc với nhiều cảm xúc đan xen, bà chìa đôi tay cho con mình.
Anh thong thả rửa đôi tay cho mẹ mình. Nước mắt trào ra khi anh làm việc đó. Đó là lần đầu tiên anh nhận thấy đôi tay của mẹ mình quá nhăn nheo, thô ráp và thâm tím. Những vết thâm tím đó đau đớn đến nỗi người mẹ phải giật thót khi được kỳ cọ với nước. Đó là lần đầu tiên anh nhận ra rằng đôi tay đó đã phải giặt giũ mỗi ngày để có tiền đóng học phí cho anh. Những vết thâm tím trên đôi tay người mẹ là cái giá mà người mẹ phải trả cho những mảnh bằng tốt nghiệp, cho thành tích học tập và cho tương lai của anh.
Sau khi rửa xong đôi tay cho mẹ, anh lặng lẽ giặt nốt tất cả những áo quần còn lại giúp cho mẹ mình. Tối hôm ấy, hai mẹ con nói chuyện với nhau rất lâu.
Sáng hôm sau, anh đến văn phòng giám đốc. Vị giám đốc hỏi và nhận thấy mắt anh ngấn lệ: “Anh có thể kể tôi nghe anh đã làm và học được điều gì ở nhà trong ngày hôm qua không?
Anh trả lời: “Tôi đã rửa tay cho mẹ tôi, và cũng giặt hết tất cả áo quần còn sót lại.”
Vị giám đốc nói: “Hãy kể cho tôi biết cảm xúc của anh lúc đó”
Anh đáp: “Thứ nhất, giờ đây tôi biết thế nào là cảm kích và tri ân. Không có mẹ tôi thì không có sự thành công của tôi ngày hôm nay. Thứ hai, nhờ cùng làm việc và giúp đỡ mẹ, tôi mới nhận ra rằng, để làm được điều gì đó cũng khó khăn và vất vả biết bao nhiêu. Thứ ba, tôi đã nhận ra được giá trị và sự quan trọng của mối quan hệ trong gia đình.
Vị giám đốc nói, “Đây chính là những điều tôi cần tìm kiếm ở một người quản lý. Tôi muốn tuyển một người biết đánh giá cao sự giúp đỡ của người khác, một người hiểu biết những xúc cảm của người khác khi họ hoàn thành công việc, và là người không coi tiền bạc là mục đích chính của cuộc đời. Anh đã được tuyển dụng”.
Sau đó, người thanh niên đã làm việc rất chăm chỉ và nhận được sự quý trọng của những thuộc cấp. Họ làm việc cần mẫn và đoàn kết. Công ty phát triển rất lớn mạnh.
Một đứa bé thường được bảo vệ và chìu chuộng, sẽ phát triển tâm lý “sai khiến” và luôn nghĩ đến bản thân mình trước tiên. Nó sẽ thờ ơ trước những sự khó nhọc của cha mẹ. Khi nó bắt đầu công việc, nó sẽ luôn cho rằng mọi người đều phải lắng nghe nó, và khi nó trở thành một người quản lý, nó sẽ không bao giờ biết được những nhọc nhằn của những người làm công, và luôn đổ lỗi cho người khác. Đối với những tuýp người này, họ có thể có học vị cao, có thể thành công trong một giai đoạn nào đó, nhưng cuối cùng sẽ không có cảm thấy ý nghĩa của những gì mình có được. Họ sẽ càu nhàu và bực dọc và đấu tranh vì nhiều thứ khác. Nếu chúng ta là bậc cha mẹ kiểu này, chúng ta đã thực sự chứng tỏ tình yêu thương của mình hay là đang hủy hoại con mình?
Bạn có thể cho đứa con mình sống trong một ngôi biệt thự rộng lớn, ăn cao lương mỹ vị, tấu dương cầm, xem một ti vi thật lớn. Nhưng khi bạn đang cắt cỏ hãy để cho chúng cũng được có trải nghiệm này. Sau bữa ăn, hãy để chúng rửa bát đĩa cùng với các anh chị. Đó không phải vì bạn không có tiền thuê người giúp việc, mà là vì bạn muốn thương yêu chúng theo một cách đúng đắn. Bạn muốn chúng hiểu rằng, một ngày nào đó khi tóc hoa râm, cha mẹ giàu có cỡ nào cũng vậy thôi, giống như người mẹ của anh thanh niên này. Điều quan trọng là những đứa con của bạn phải học được cách biết ơn về những sự khổ công, nhọc nhằn và biết cách làm việc như những người khác để hoàn thành mọi việc.
Truc Chi sưu tầm