Thứ Hai, 6 tháng 9, 2010

Những câu danh ngôn hay và ý nghĩa




Những câu danh ngôn hay và ý nghĩa


Con đi đâu, con về đâu?
Cuộc đời của mẹ là câu trả lời!
Khuyết danh

Lắng lòng nhẫn một chút thôi,
Để nghe Trời đất mở lời yêu thương.
Khuyết danh

Không biết không phải là xấu hổ,
không muốn biết mới đáng xấu hổ.
Ngạn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ.

Học những điều mình chưa biết,
Dù bất kỳ lúc nào cũng không bao giờ thừa.
Socrates 

Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha,
Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ.
Khuyết danh.

Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ,
Gian khổ một đời không ai gánh nặng bằng cha.
Khuyết danh.

Có 3 thứ ngu dốt: không biết những gì mình cần biết,
không rành những gì mình biết và biết những gì mình không cần biết.
La Rochefoucauld

Ơn ai một chút, chớ quên,
Oán ai một chút, cất bên dạ này.
Ca dao

Cuộc đời sóng gió nuôi ta lớn,
Bao lần thất bại dạy ta khôn.
Khuyết danh

Lấy của che thân,
Không ai lấy thân che của.
Tục ngữ

Đừng để đến ngày mai những việc anh có thể làm hôm nay.
Lord Chesterfield

Trễ hẹn là một hành vi thiếu trung thực rõ rệt.
Bạn có thể là đang vay tiền lẫn thời gian của người ta đấy.
Horace Mann

Lời nói như tên, không nên bắn bậy
Hễ lọt vào tai ai thì khó mà lấy ra được
Khuyết Danh




Một câu nhịn bằng chín câu lành!

 Khuyết Danh

Ngọn đuốc soi lòng




NGỌN ĐUỐC SOI LÒNG
 (Định Tường) Tuất thời 20 tháng 9 Đinh Mùi (23-10-1967)

THI:
Một cành sen trắng trổ thêm hoa,
Ngào ngạt nhờ xong mối Đạo nhà;
Chung sức gieo trồng cây hạnh đức,
Được về Tiên cảnh thoát trầm kha.
      BẠCH LIÊN TIÊN NƯƠNG, Tệ Tỷ chào chư Thiên mạng, chào chư liệt vị tam ban. Chị mừng các em nữ phái.
      Cũng nhờ sớm biết lo tu và nhục tử biết lập công bồi đức mà Tệ Tỷ được về ngôi xưa vị cũ, hằng vui cảnh thiên nhiên với hàng Tiên Nữ, sớm tiêu dao miền Bồng Đảo, chiều dạo cảnh chốn lâm tòng, ngàn năm muôn tuổi không già không bệnh, không chết, không sanh. Tuy nhiên, Tệ Tỷ cũng hằng theo gần gũi các Đấng Giáo Chủ để học hỏi tu luyện thêm hơn, để có đủ huyền vi diệu pháp giúp thế độ người.
      Được vâng lịnh báo đàn, nên Tệ Tỷ vội vã đôi lời nhắc nhở chị em cố gắng tu hành để sớm giải vòng oan khiên nghiệp chướng.
      Chư liệt vị và các em thành tâm tiếp điển Đức Quan Âm Bồ Tát giáng đàn, Tệ Tỷ xin chào chung, hẹn ngày tái ngộ, thăng...
     
Tiếp điển:

THI:
Tuy về cõi thượng chốn thanh vân,
Nghĩ lại mà thương kẻ thế trần;
Nghiệp chướng còn mang mang mểnh mãi.
Nên đành lẩn quẩn bánh xe luân.

      QUAN-ÂM BỒ-TÁT, vâng lệnh ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU, thừa hành sắc lệnh TÒA TAM GIÁO, Bần Đạo giáng đàn để mấy dòng đạo lý cho chư hiền muội gọi là khích lệ và ban khen công trình khó nhọc đeo đuổi Đạo Trời để tìm đường giải khổ. Miễn lễ đàn trung an tọa đẳng đẳng.
      Chư hiền muội! Phàm trần Phật cảnh tuy có cách nhau, nhưng với những lòng thành kính dạ hoài mong thì sự thông công hai miền cũng không phải cách. Hiện nay chỉ còn xa cách là bởi chư hiền muội còn mang nhục thể, nhục nhãn, nhục nhĩ cũng như phàm tâm, kèm theo đó, những bản ngã, những thất tình lục dục còn chế ngự rào đón bản tâm linh. Cho nên, kẻ Tiên người tục nhiều khi muốn giúp đỡ dìu dẫn nhau, phải gặp mọi điều cách trở.
      Cũng còn phúc đức trong Tam-Kỳ Phổ-Độ đã có phương tiện thông công là huyền cơ diệu bút, mà Bần Đạo và các Đấng Thiêng Liêng có nhiều dịp nhủ khuyên dạy bảo, dắt lối đưa đường cho chư hiền muội nương theo đó thức tỉnh tâm linh, tô bồi âm chất.

THI:
Bởi nhiều nghiệp chướng mãi đeo đai,
Bên bước tu hành lắm trở gay;
Con cái cửa nhà lo thiếu đủ,
Tạc thù đây đó bận liền tay.

HỰU:
Tay yếu chân mềm cố đảm đương,
Sao cho hạnh phúc chốn gia đường;
Còn đâu rỗi rãi lo Thiên Đạo,
Để kịp ngày kia dự thí trường.

HỰU:
Trường thi công quả chọn nhơn hiền,
Cho kẻ tu hành hữu huệ duyên;
Chẳng luận nữ nam Âu Mỹ Á,
Ai nhiều huệ phúc sẽ thành Tiên.

HỰU:
Tiên tục hai đường dẫu cách xa,
Có tâm thiện nguyện kế bên mà;
Dắt dìu cho thoát bao tai ách,
Phủi nợ hồng trần cõi giới ba.

THI:
Gíac ngộ tầm Tiên học Đạo mầu,
Đạo mầu nào phải cách xa đâu;
Xa đâu phải ở miền Tây Vức,
Tây Vức nơi tâm kẻ khẩn cầu.

THI BÀI:
Thương kẻ tục dãi dầu sớm tối,
Chốn hồng trần không lối thoát ra;
Thế gian những tưởng là nhà,
Lo xây kiên cố ở mà muôn năm.
Tình mẫu tử thậm thâm hoạn dưỡng,
Nghĩa phu thê hạnh hưởng trọn đời;
Vì chưng muốn sống yên nơi,
Trăm phương ngàn kế cho đời đẹp xinh.
Dựng sự nghiệp cho mình sự nghiệp,
Cho các con kế tiếp đời sau;
Trong khi thâu góp của vào,
Vô tình gây tạo biết bao lỗi lầm.
Người có nghĩa thì làm nghiệp thiện,
Xây cơ đồ tùy tiện tài năng;
Chớ không nỡ dạ làm xằng,
Cho thân dư dả cho bằng thế nhân.
Thà nghèo túng còn hơn trái đạo,
Thà đói no hoài bảo nghĩa nhân;
Mặc ai sớm Sở chiều Tần,
Mặc ai buôn tướng bán quân không màng.
Cũng có kẻ gây oan nghiệp chướng,
Miễn cho đời hạnh hưởng ấm no;
Bày ra mưu lược lắm trò,
Bất nhân phú túc của kho dẫy đầy.
Đâu có biết họa bay tai gởi,
Đâu có tường ác lợi ác vương;
Thế nên lừa đảo khôn lường,
Tới chừng gặp quỉ vô thường mới hay.
Đến chừng ấy trở tay không kịp,
Bởi vì chưng tạo nghiệp dẫy đầy;
Ác lai ác báo đến ngày,
Tội xưa ta tạo, ngày nay ta đền.
Bánh xe luân xuống lên chuyển tiếp,
Tử rồi sanh theo nghiệp theo duyên;
Quay trong cái bánh dây chuyền,
Bao giờ trả hết oan khiên mới rồi.
Sanh cõi tạm ai ơi khá hiểu,
Ráng mà tu tích thiểu thành đa;
Thế gian đâu phải thật nhà,
Cảnh Tiên mới thiệt Bửu Tòa Thiêng Liêng.
Phận làm mẹ tu hiền vui vẻ,
Làm gương cho con trẻ noi theo;
Đời rằng: bèo lại sanh bèo,
Ổi đâu trổ trái dưa leo bao giờ.
Con còn dại còn khờ trong trắng,
Tập tánh cho chúng đặng hiền lương;
Ban cho chúng nó tình thương,
Chọn người bạn tốt trên đường tiến thân.
Bà mẹ ấy tinh thần trụ cốt,
Là hiền thê rường cột gia trung;
Chồng xưa nổi tiếng anh hùng,
Cũng do hiền phụ đúc un tinh thần.
Xưa Mạnh Mẫu cầm chân Mạnh Tử,
Theo học đường trung thứ lễ nghi;
Ngày nay tiết nghĩa còn ghi,
Nho Tông Khổng Mạnh Đông Tây kính nhường.
Đó là tu cang thường gia đạo,
Đó là tu hoài bảo nghĩa nhân;
Đó là cơ bản tinh thần,
Đạo người làm vẹn ở tầng thứ ba.
Dày công quả bước qua Thiên Đạo,
Họa theo gương Tam Bảo Thánh Hiền;
Làm theo kinh sách chỉ truyền,
Hễ làm cho đúng thành Tiên mấy hồi.
Tu phải cố trau dồi tâm tánh,
Phải trước tiên quyết định tu chi;
Tụng kinh là để làm gì?
Ăn chay niệm Phật ích chi cho mình.
Không phải Phật thiếu kinh thường dụng,
Bảo chúng sanh đem tụng Phật nghe;
Tụng kinh như thể nói vè,
Nghĩa sâu không biết, lối lề không thông.
Chẳng khác nào nghe ong vò vẽ,
Tiếng nhỏ to thỏ thẻ vu vu;
Tụng nhiều mới gọi là tu,
Đọc nhiều cho Phật công phu mới nhiều.
Đó là tu theo chiều mê tín,
Biết bao giờ tâm Thánh mở mang;
Sách Kinh là đuốc rọi đàng,
Dạy đời học Đạo hành tàng thể nao.
Vì lẽ đó cùng nhau ráng hiểu,
Đọc Kinh coi Phật biểu làm chi;
Ráng làm ăn ở cho y,
Tánh tình cùng những hành vi Phật Trời.
Đọc Kinh rồi hiểu lời Phật dạy,
Thì chớ làm trái lại sách kinh,
Nếu khi mình đã thông minh,
Lão thông Đạo Pháp xem kinh làm gì?
Ăn chay để làm chi vậy hử?
Tập ăn chay để khử lòng trần;
Bao nhiêu ái ố tham sân,
Bao nhiêu thói xấu rửa lần cho thanh.
Ăn chay để tập tành nhân dõng,
Loài vật kia cũng sống như mình;
Lẽ nào đành đoạn sát sinh,
Rượu ngon thịt béo tiệc tùng sớm trưa.
Đó là lối muối dưa tụng niệm,
Tập tánh hiền cho tiệm-tiến lên;
Lòng thương nhân hậu làm nền,
Gợi đèn minh triết cho bền quang minh.
Còn cúng lạy niệm danh chư Phật,
Ở chùa chiền tịnh thất thường khi;
Tứ thời bái sám làm chi?
Niệm danh các Đấng làm gì nữa đây?
Có người niệm xin Thầy cùng Phật,
Cho Thánh Đường Tịnh Thất bình yên;
Đó đây trên dưới chùa chiền,
Đừng cho phá hoại giữ yên mãi hoài.
Cho gia đạo trong ngoài an bỉ,
Cho đàn con ứng thí thủ khoa;
Và cho lớn bé trẻ già,
Làm ăn thạnh mậu cửa nhà sum sê.
Tôi sẽ nguyện đem về cho Phật,
Hoa quả trà chồng chất đầy bàn;
Hương thơm trầm tốt trà nhang,
Rượu lê trà cúc bỉ bàng thiếu chi.
Xin chư Phật từ bi gia hộ,
Cho chồng tôi thi đỗ quan cao;
Để cầm vận mạng phong trào,
Đi đâu dân chúng chạy theo rần rần.
Đó là tu theo phần mê tín,
Phật Tiên đâu ưa nịnh ưa dua;
Mà đem lễ vật đến chùa,
Đặt điều kiện để bán mua Phật Trời.
Cúng lạy để nghỉ ngơi tâm trí,
Để tịnh lòng tịnh ý tịnh ngôn;
Khép mình dưới bệ Chí-Tôn,
Trau dồi tính nết luyện hồn tịnh thanh.
Cúng lạy để tâm lành phát hiện,
Nhìn Phật Tiên trên điện hiền hòa;
Khởi lòng bác ái vị tha,
Nhìn chung Thượng-Đế là cha linh hồn.
Nhìn lên trái càn khôn thường trụ,
Nhật nguyệt cùng tinh tú bao quanh:
Càn khôn vũ trụ vận hành,
Còn mình là một chúng sanh phàm trần.
Mình cũng có pháp thân nội ngoại,
Cũng như Trời là đại linh quang;
Trên thì Thiên Thượng Thánh Hoàng,
Dưới mình thiên hạ trần gian điển hình.
Trời thì có hành tinh nhật nguyệt,
Có âm dương hàn nhiệt nóng khô;
Con người là tiểu qui mô,
Cũng đều có bản hà đồ lạc thơ.
Đó là máy huyền cơ Tạo Vật,
Người với Trời thể chất song song;
Nếu mình bền chí gia công,
Tu thân luyện mạng cũng mong thành Trời.
Phải nhiều kiếp luân hồi tiến hóa,
Đi từ từ chỗ đọa đến thăng;
Con người là tiểu linh quang,
Từ trong khoáng sản ẩn tàng cỏ cây.
Đến cầm thú ngô ngây khờ dại,
Nhiều kiếp rồi biến cải linh hồn;
Tiến lên đến bậc vi nhơn,
Có luôn thất phách tam hồn qui nguyên.
Người tu được thành Tiên tác Phật,
Khổ công tu chẳng mất ai ơi;
Tu đi một vốn mười lời,
Nhà băng thượng giới Cha Trời dành cho.
Chớ đừng có bo bo ích kỷ;
Lo tóm thâu của quí để dành;
Một giờ lửa đạn chiến tranh,
Của nhà sự nghiệp tan tành còn chi.
Đó là nghĩa những khi cúng lạy,
Niệm Phật Tiên van vái Thánh Thần;
Phải tìm hiểu nghĩa chánh chân,
Mới bù công khó tu thân một đời.
Đêm Thu để ít lời đại khái,
Cho chị em nữ phái ghi lòng;
Gọi là tưởng thưởng cái công,
Đã nhiều năm tháng trọn lòng kỉnh tin.
Tu phải hiểu đức tin chánh tín,
Mỗi việc hành xét định minh quang;
Chớ nghe tiếng uyển tiếng đàn,
Yếu lòng non dạ tin càng mà nguy.
Đời còn lắm loạn ly khổ sở,
Đạo nơi nào cứ ở đó đi;
Đừng lòng chạy đó chạy đây,
Bị ma dẫn dắt lạc Thầy Chí Tôn.
Rồi phiền trách sao Ơn Trên chẳng,
Theo hộ trì cho được yên lành;
Mấy mươi năm đã tu hành,
Một giờ mềm yếu tan tành còn đâu.
Lời dặn dò ghi sâu gìn giữ,
Cho chị em phái nữ rán tu;
Tu không như phải người mù,
Ép thân ép xác dập đầu cầu ơn.
Lời dặn dò keo sơn gắn bó,
Nhắn nhủ nhau đây đó được tàng;
Ban ơn toàn thể trung đàn,
Ráng lo hành đạo, cảnh nhàn đây lui.
Thăng.

Lời Đức Mẹ khuyên ăn chay và không sát sanh


Lắm phen rồi Mẹ khuyên chay lạt,
Gốc gì đâu sanh sát cấm ngăn?
Cũng tình liên lạc đồng bằng,
Thú cầm vẫn thể linh căn Thượng Hoàng.
Bởi chưng thú chẳng quang minh lắm,
Cần trau tria rửa tắm nhiều giờ;
Với con là lũ em thơ,
Nỡ nào nhìn nhỏ xác xơ thân hình?
Tuy chẳng nói thân hình giống tạc,
Cũng biết ăn, biết khát, biết đau;
Phơi da, lóc thịt làm sao?
Con ôi! Sao uống huyết đào đàn em?
Nhìn con thú sắp đem làm thịt,
Vây quanh mình đen nghịt những người;
Tay dao, tay búa, nói cười,
Thú kêu thảm thiết, nhìn người van lơn!
Xin ai chút lòng nhơn bác ái,
Thả tôi ra, tôi chạy thăm con;
Trẻ trông, trẻ sợ gầy mòn,
Ơn nầy ghi tạc, trả tròn ngày sau!
Mặc cho thú lệ trào buồn bã,
Những người kia nghiêng ngã reo hò;
Vô tình huơ búa vo vo,
Biết đâu lòng thú quá lo, quá sầu!
Khi mạnh khỏe kê đầu làm việc,
Giúp đỡ người chẳng biết kêu la;
Dầm sương, giãi nắng, phơi da,
Sống làm tôi mọi, thác già xẻ thây!
Rồng, cọp dữ nơi đây không sánh,
Người cầm dao giết đánh thú cầm;
Ăn ngon sướng miệng bao năm,
Hờn kia, oán nọ, ngàn năm còn hoài!
Thượng Đế sanh muôn loài vạn vật,
Chiết Chơn Thần ẩn cất bên trong;
Bởi nên những kẻ ác lòng,
Giết loài cầm thú, sân rồng tội căn!
Con nên hiểu mỗi lần giết thú,
Là con làm hại đủ Thượng Thiên,
Sát sanh, hại vật nên kiêng,
Ấy điều thứ nhứt dạy riêng năm lần!!!
Tự so sánh xác thân cái máy,
Mỗi ngày đi, vẫn chạy, vẫn xoay;
Hao lần mòn mỏi hư trầy,
Phải cần dầu mở chế đầy mới thông.
Muốn linh hồn “cõi không” siêu thoát,
Thì phải toan chay lạt mới mau;
Mỗi giờ luyện Đạo giồi trau,
Nhẹ nhàng xác khí, ra vào thông thương.

Trích Khuyến Nữ Hồi Tâm Kinh

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

Sắc không luận


SẮC KHÔNG LUẬN
20 tháng 8 - Bính Tý (1936) – ĐẠI THỪA CHƠN GIÁO


Thi:
CAO thăng linh-diệu quán thần-thông,
ÐÀI các nguy nga nỗi bận lòng;
TIÊN Phật thoát ra ngoài cảnh khổ,
ÔNG thành Ðạo chỉ giữ tâm không.

       Thầy mừng các con.
       Thầy nắm cơ-quan mà vận hành Chơn-Ðạo chuyển hóa chúng-sanh.  Thầy bỏ ngôi Thiên giáng thế là vì thương xót đám sanh-linh mới lập Ðại-Ðạo mà cứu vớt cho khỏi tội-tình để tránh cuộc tang thương cứ mãi vùi chôn trong gió bụi.
       Thầy nay ban xuống một pho ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO minh lý Ðạo, thức tỉnh chúng-sanh (riêng cho kẻ luyện Ðạo) tu hành, làm mối chuẩn thằng, lưu truyền tập tục.
       Sẵn đây Thầy giải qua chữ  SẮC, chữ KHÔNG.  Các con nên học nằm lòng mà lo giải-thoát.

Thi:
Muôn vật thế-gian chẳng vững bền,
Có thì hư-hoại mấy hồi nên;
KHÔNG là trường-cửu, không tan rã,
Nên mượn chữ KHÔNG đúc móng nền.

       SẮC tức thị KHÔNG.  Ở thế gian hữu-hình vật-chất này, không bao lâu nó tan ra gió bụi.
       Các con có hình-trạng, mắt thấy, tai nghe là giả, mộng ảo.  Các vật sống trên thế-giới không bao giờ bền-bỉ, có đó rồi nó lại hóa ra không.  Sự có, không ấy nó dễ dàng mau lẹ như bọt nước trôi sông, như sương đeo ngọn cỏ.  Ðã vậy, cõi trần ai, là nơi "Dục-Giới", con người cả ham muốn, ưa vật này, thích món nọ.  Cái túi tham không đáy, chứa mãi chẳng đầy. Lòng tham dục chuyện này việc khác, đắm đuối trong bốn vách: tửu, khí, sắc, tài, say-mê bả lợi, mồi danh, cứ quẩn-quẩn quanh-quanh trong trường mộng ảo.  Không xét cạn, nghĩ cùng cuộc đời là giả.  Các vật sắp bày trên mặt đất nó hư-hoại chẳng vững-bền mà con người cứ tham chạ, tưởng vơ, cứ bỏ chỗ không mà tìm nơi chỗ có. Có kia sẽ hóa không, không ấy là đường Chơn-Ðạo.  Cái xác phàm hư-hoại thì linh-hồn trở lại chỗ không. Vậy thì các trẻ ráng nỗ sức gia-công mà tham-khảo con đường thâm-viễn.

THI BÀI
Ðường Chơn-Ðạo trong "KHÔNG" mà "",
Pháp-chánh-truyền có đó hóa không;
Làm sao phủi sạch bụi hồng,
Giữ tâm thanh-tịnh để lòng tự-nhiên.
Cõi vật-chất hiện tiền thấy đó,
Vật sắp bày nhưng có mà không;
Nó mau hư nát lẹ làng,
Chẳng chi bền-bỉ vững-vàng đặng lâu!
Mắt dòm thấy sắc, màu, hình, tướng,
Thì chắc gì ảnh-hưởng về sau;
Nhục, vinh, sang, tiện, nghèo, giàu,
Sang qua sớt lại biết bao nhiêu lần.
Ðịnh trí nghĩ cuộc trần giả-mộng,
Thoát ra ngoài hư-hỏng tang-thương;
Ngày đêm tâm-chí lo lường,
Tầm tu Chánh-giáo là phương chữa mình.
Kìa những đóa hoa xinh sắc đẹp,
Mọi người đều mê-mệt mến-ham!
Thánh kia lộn kiếp ra phàm,
Sóng trần bũa khắp đành cam lấp-vùi!
Người thích cuộc mua vui ham lạ,
Ðắm sắc rồi như cá vướng câu;
Ruột, gan, tâm, trí, lộn nhầu,
Tinh-thần tiều-tụy, đèn dầu lụn tim.
Phân tội phước nặng chìm nhẹ nổi,
Kiếp luân-hồi tiếp-nối mãi ru!
Nghiệp dày mắc phải tội tù,
Bởi chưng tham dục không tu chịu hèn.
Ðời nhiều lúc trắng, đen thay đổi,
Ðời nhiều người lầm-lỗi quá chừng;
Vừa lòng ham muốn vui mừng,
Không vừa oán-trách lẫy-lừng ghét-ganh.
Các sự quấy nảy sanh ra mãi,
Xác thịt còn nó lại đeo-đai;
Ý, thân, miệng, mũi, mắt, tai,
Trừ xong thì thấy lộ-bày cảnh không.
Kìa muôn vật ở trong thế-giới,
Tụ rồi tan, có lại thành không;
Dòm xem Thầy luống não-nồng,
Dinh-hư tiêu-trưởng non sông chắc gì?
Chi bằng trước qui-y hành Ðạo,
Bỏ lòng phàm mà tạo lòng Tiên;
Lòng phàm chác những não-phiền,
Buồn, lo, than, trách, xẹo-xiên, giận-hờn.
Lòng Tiên mới là chơn-chánh Ðạo,
Không không mà thông-thạo diệu-huyền;
Dứt rồi nghiệp-quả nhơn-duyên,
Ðoạn xong tư-tưởng nối chuyền về sau.
Không, không sắc, không màu, không tướng,
Không, không hình, không tượng, không nghe;
Không ham kết đảng lập phe,
Không ham sang-trọng, không khoe-khoang mình.
Không cầu lợi, cầu danh tham dục,
Không làm điều tà-khúc hại đời;
Không làm khó nhọc cho người,
Không làm chuyện quấy để đời phiền-phân.
Không lưu-luyến hồng-trần buộc trí,
Khỏi bốn tường trực-chỉ Ðào-Nguyên;
Không không mới thiệt diệu-huyền,
Chữ không làm đặng thì Tiên trong đời.
Ðể tâm KHÔNG Phật, Trời bố hóa,
Người tu hành chẳng khá bỏ KHÔNG;
Chữ KHÔNG mầu-nhiệm nơi lòng,
Hành theo thấy rõ tâm trong diệu-huyền.
Người nên Thánh, nên Hiền, nên Ðạo,
Trước phải lo rèn-tạo chơn-không;
Mặc ai tham-chạ đèo-bồng,
Mặc ta, ta cứ giữ lòng an-nhiên.
Dẫu người dụng oai-quyền húng-hiếp,
Cứ nhẫn-hòa bặt-thiệp thanh-minh;
Chẳng vì sợ hại-hư mình,
Ngơ tai, bít mắt, vẹn gìn lòng son.
Nã-Phá-Luân gương còn ở đó,
Ngang dọc trời, công khó biết bao;
Xông pha tên đạn ào-ào,
Rốt rồi cũng bại, anh hào hóa Không.
Kìa Hạng-Võ non sông ngang dọc,
Lúc suy thời khử-nọc bạo-hung;
Xưa nay biết mấy anh hùng,
Rốt rồi chẳng khỏi đến cùng thành Không.
Ðạo Tiên Phật rèn lòng luyện tánh,
Tìm chỗ KHÔNG mà lánh luân-hồi;
Ở trần nhân-quả nó nhồi,
Ráng tu một thuở gỡ rồi nợ-duyên.
Mượn cảnh không diệt phiền trừ não,
Bực chí-thành nương Ðạo an vui;
Gỡ xong thế-cuộc rối-nùi,
Trăng-thanh gió-mát là mùi thanh-tao.
Ai là bực anh-hào quân-tử?
Ai lảu-thông kinh-sử Thánh-Hiền?
Sao mang chứng bịnh não-phiền,
Không lo thoát khỏi cái xiềng quỉ-vương!
Sao không biết tầm đường chánh-đại,
Mê lợi danh mắc phải tội-tình;
Khôn chi chôn cả tánh linh,
Hai đường, đường nhục, đường vinh, chọn làm.

Thi:
Làm sao xứng-đáng Ðạo nhà Nam,
Nam nữ luyện tu cổi lốt phàm;
Phàm Thánh khác xa  với Giác,
Giác-quan cám dỗ chớ nên làm.


       Thầy ban ơn các con.  Thầy thăng.

Luật nhân quả luân hồi



QUẢ BÁO LUÂN HỒI
Ngày 25 tháng 8 - Bính-Tý (1936) – ĐẠI THỪA CHƠN GIÁO


Thi:
NGỌC linh trước mắt mấy ai tường,
HOÀNG-phụ thấy đời xiết nỗi thương,
THƯỢNG đạt nên người chưa mấy kẻ,
ÐẾ Thiên thương xót đến đem đường.
       Thầy mừng các con.

Thi:
Thinh thang bao quát cả Càn-Khôn,
Thế-giới hư-linh thế-giới hồn,
Hồn xác lẫn nhau bồi quả kiếp,
Xanh xanh qua lại lúc hoàng hôn.

       Thầy thấy đời quá ư tội lỗi, nhơn sanh xua đuổi về đường vật-chất làm tiêu mất nẻo linh-quang, mảng vui say ưa thích danh vọng lợi quyền, nào thấu đáo máy hành-tàng cơ dĩ định.
       Nay nhằm thời kỳ tận diệt, cuộc dinh hư tiêu trưởng sắp bày, người người còn mê mẫn đắm say theo tửu, khí, sắc, tài, nào có hay sự sắp khổ bên tai, cơ xáo lộn biến thiên, đó là muôn vật chịu tiêu diệt đọa đày trong Thiên Ðịa đại-luân-hồi. Cơ mạt kiếp hầu kề, nên chi Thầy không nỡ để cho bầy con phải chịu tận vong, hiệp Tam-Giáo, hội đồng Phật, Thánh, Tiên mà hưng truyền Ðại- Ðạo.  Vì ở thế gian cũng có người lành, kẻ dữ, đứa hiền lương Ðạo-đức chuộng tinh thần, ham ích chúng, còn đứa lại hung ác bạo tàn mê vật chất, mến tình đời, mà xa đàng Thiên Ðạo.  Thầy thấy vậy, không lẽ để các con cả lành lẫn dữ chung chịu trong cơ biến đổi của cuộc tang thương, nên giáng thế lập Chơn-Ðạo, khai Chơn-Giáo Ðại-Học- Ðường là minh đức tân dân, chỉ ư chí thiện.  Con nào biết thì noi theo đó mà làm phương-pháp thoát ra khỏi đường sanh tử.

Thi:
CAO-ÐÀI ÐẠI-ÐẠO đức minh thông,
Giáo dục hồn dân đến cảnh không,
Qui-củ chuẩn-thằng nền tảng Ðạo,
Linh-hồn tấn-hóa giữ đều công.

Trường Thiên:
Công bình Tạo-Hóa hay thương,
Thương đời nên phải dùng phương cứu đời.
Cơ mầu nhiệm Phật, Trời ẩn giấu,
Pháp tâm-truyền tri thấu bổn nguyên,
Gầy nên thủy tú sơn xuyên,
Toàn thông tuyệt xảo diệu-huyền ẩn vi.
Người thượng đạt tầm suy nghĩ ngợi,
Khảo cứu thông vạn đợi tinh vi,
Âm dương vận chuyển hiệp qui,
Hai năng lực đó cứ thi hành hoài.
Thầy Chúa Tể hoằng khai Ðạo-đức,
Nắm mối giềng hiệp nhứt Càn-Khôn,
Chia ra biết mấy nhiêu hồn,
Nhập vào vật chất bảo tồn cơ quan.
Ba Tôn-Giáo vén màn bí mật,
Rõ pháp linh Tiên Phật sắp bày,
Cho đời biết lý Ðạo khai,
Linh-hồn ảnh hưởng trần ai lẽ nào.
Từ thảo mộc được vào nhơn loại,
Quả kiếp nhồi mắc phải khổ lao,
Càng bền chí bước càng cao,
Càng tu luyện mãi càng vào cảnh Tiên.
Linh-hồn rất linh thiêng biến hóa,
Ðoạt thần thông phép lạ vô hình,
Thiệt là chí bửu trường sanh,
Luyện cho đắc huệ khiết thanh hoàn toàn.
Khí hư vô bao trùm Thái-Cực,
Thái-Cực ngôi độc nhứt chủ trương,
Thần thông biến hóa khôn lường,
Cơ quan đồng mở phi thường Ðạo CAO.
Lý quang-minh bao trùm Võ-Trụ,
Tạo Càn-Khôn khí cụ sắp bày,
Tri nguyên quá khứ vị lai,
Gầy nên các giống đặt bày vẻ vang.
Thái-Cực Ðại-Linh-Quang nguyên thỉ,
Ðộng tịnh cơ lý khí tương hòa,
Ở trong một khối chia ra,
Thiên hình vạn trạng tinh ba ẩn tàng.
Mỗi vật có linh-quang cư tại,
Hồn thiêng-liêng vạn tải sanh tồn,
Lạ gì có dại có khôn,
Bởi chưng thanh trược nên hồn thấp cao.
Linh-quang chịu nhập vào vật-chất,
Vật-chất nhờ tánh Phật điểm khai,
Linh-hồn bỏ xác ra ngoài,
Thì trong vật-chất hình hài tiêu tan.
Linh-hồn được mở mang thông thái,
Kinh nghiệm đời quấy phải phân minh,
Nhập trong các món hữu hình,
Lập công bồi đức trau mình nên gương.
Tấn-hóa mãi trên đường Ðạo-đức,
Bỏ xác về hiệp nhứt bổn nguyên,
Thiệt là diệu-diệu huyền-huyền,
Bất tiêu bất diệt là Tiên trên Trời.
Hồn phải chịu luân-hồi học hỏi,
Học cho xong các cõi mới thành,
Học cho rõ cuộc tử sanh,
Rõ đường tấn thối dữ lành giác mê.
Hồn thanh bạch lo bề Ðạo-đức,
Tu luyện hầu hiệp nhứt cảnh không,
Cầu truyền tâm-pháp thần-thông,
Lập tâm thanh tịnh dụng công đêm ngày.
Ðoạt thấu chỗ bổn-lai diện-mục,
Rửa sạch lòng phàm-tục bợn-nhơ,
Trầm-tư mặc-tưởng huyền-cơ,
Thoát thai thần hóa một giờ đắc minh.
Hồn thoát khỏi tội tình nhơn-quả,
Ði mãi trong đường cả Phật, Tiên,
Nên gương đức hạnh lưu truyền,
Thế gian ca tụng người hiền đắc đơn.
Hồn nào làm bất nhơn phi nghĩa,
Chịu đọa đày nhiều phía gớm ghê,
Mang thân ô trược nặng nề,
Linh-hồn mờ-ám muội-mê bao vòng.
Chừng nào gỡ cho xong thể chất,
Cột ràng quanh chất-ngất dây chằng,
Biết nguồn Ðạo-đức tầm phăng,
Ðoạn tiêu dứt sạch vụn vằn cắt ra.
Cổi lốt trược ngoài da trong bọc,
Lấy lòng chơn lừa lọc thanh-quang,
Linh-hồn thong thả nhẹ nhàng,
Hết ưa mùi tục, không màng sướng vui.
Nợ nhân quả lấp vùi tánh đức,
Biết ngày nào gỡ dứt tiền khiên,
Trả vay, vay trả liền liền,
Nhơn nào, quả nấy, nghiệp duyên buộc mình.
Bóng cong vạy tại hình cong vạy,
Tội phước đi qua lại không chừng,
Xác phàm sung sướng vui mừng,
Linh-hồn phải chịu bâng-khuâng não-phiền.
Gieo giống chi mọc liền giống nấy,
Cảm vật nào vật ấy ứng cho,
Coi như trong cái xe bò,
Bánh xe lăn trả kịp giò bước chưn.
Bò ngừng lại bánh ngừng đứng lại,
Chậm hay mau là tại nơi bò,
Bánh xe nó chạy theo giò,
Chạy không cũng tại con bò gây ra.
Xét lỗi người, lỗi ta ai xét,
Sương nhà người, người quét đặng thôi,
Muốn mau thoát kiếp luân-hồi,
Kiếp này ráng chịu quả nhồi cho mau.
Ðời cũng có giàu nghèo cao thấp,
Tại nơi người tạo lập nó ra,
Rồi than oán-trách Trời già,
Không ngờ ta chác lấy ta cho nhiều.
Lòng tham dục bao nhiêu cho đủ,
Ðể thất tình làm chủ lấy tâm,
Khiến gây tội ác lỗi lầm,
Người chưng mắc phải vướng nhằm khổ nguy.
Lòng quấy quá tráo chì thay bạc,
Mỏi mong lo cố gạt của đời,
Không dè mắc phải lưới Trời,
Thưa mà không lọt chuyện người mảy lông.
Luật báo ứng phép công thưởng phạt,
Hành hồn rồi hành xác chẳng chơi,
Nhơn nào quả nấy chẳng rời,
Ðòn cân công luật Phật Trời thưởng răn.
Ðặng quả ngon thì ăn lấy hột,
Gieo lại mà mai mốt còn ăn,
Nhược bằng hưởng quả hột quăng,
Ngày sau thèm khát xin ăn của người.
Nay đắc thế vui cười cho lắm,
Sau suy thời bụi bặm lấp thân,
Biết lo bố đức thi ân,
Luân-hồi trở lại hưởng phần cao sang.
Nhược tánh ác bạo tàn gây họa,
Kiếp sau mang nghiệp quả phạt hình,
Sao người chẳng biết sửa mình,
Cơ Trời báo ứng hiển linh rõ ràng.
Người quân tử vững vàng tâm chí,
Chọn đường ngay trực chỉ Tây-Phương,
Kìa là nước mắt muôn đường,
Lại qua quanh quẹo phải tường chọn đi.
Thấu lý Ðạo vô-vi thanh tịnh,
Thì tâm hồn an tịnh lo tu,
Thuận theo lẽ Ðạo ôn nhu,
Tự-nhiên vô sự võng dù mặc ai.
Lo nhảy thoát ra ngoài khuôn khổ,
Ðể thất-tình cám dỗ hư thân,
Mượn nhành dương quét bụi trần,
Ðặng cho phát triển tinh-thần cao siêu.
Ðường quanh cong theo chiều mà bước,
Chí tâm bền thì được thành công,
Làm cho chánh-lý lưu thông,
Lập tâm sửa tánh kềm lòng phá mê.
Kìa biển hẹn non thề phải dứt,
Dây buộc mình cắt đứt chớ vương,
Nhu thắng cang, nhược thắng cường,
Mềm còn, cứng bể, thấy thường xưa nay.
Họa phước ấy không sai báo ứng,
Mượn kiếp này gieo chứng hậu lai,
Người tài gặp kẻ cao tài,
Ỷ tài phải chịu mang tai liền liền.

Thi:
Liền vay liền trả, trả vay hoài,
Linh tánh lộn nhào kiếp hậu lai,
Ðày đọa gỡ xong oan nghiệp trước,
Làm lành hưởng phước chẳng hề sai.

Sự báo ứng của Trời Ðất sắp bày từ tạo Thiên lập Ðịa.  Hễ người biết tu hành, làm lành, siêng năng Ðạo-đức thì trở lại chỗ cội phước hưởng an.  Còn những kẻ hung-ác bạo-tàn phải chịu dây oan cột trói.
Trời đất rất công minh, hễ làm lành thì lành trả, gây họa thì họa lai.  Trong thế gian, tại sao có kẻ nghèo người giàu, sang, hèn, khôn, dại?
Ðó là tại người gây.  Vã thí như các quả riêng mỗi giống cây, sao lại có trái ngọt, trái chua, trái cay, trái đắng, trái chát...  Sự giàu nghèo cũng vậy.  Hễ gieo giống ngọt thì quả ngọt hưởng nhờ, gieo giống chua thì quả chua nó đậu.
Các con gieo nhiều mọc nhiều, gieo ít mọc ít.  Ngày nay, các con được ấm no phải lo làm phước đức, phải lo gieo nữa đặng mùa sau có mà nuôi thân thể, chớ ăn đứt giống (gặt tuyệt nòi) còn chi sanh trở lại.

Thi:
Thầy nhỏ ơn lành xuống thế gian,
Ban thêm chén thuốc tỉnh mơ màng,
Biết đường Ðạo-đức là chơn lý,
Thì ráng lo tu nhập Niết-Bàn.
* * *
Niết-Bàn thong thả lắm con ôi!
Thú lạ Thần Tiên khoái lạc rồi,
Thanh-tịnh tiêu-diêu an tự toại,
Ðâu còn chuyển kiếp chịu luân-hồi.
* * *
Hồi nào lầm-lạc nói làm chi?
Nay gặp Thầy đây bước kịp kỳ,
Còn luyến hồng-trần mang thống khổ,
Hạ-Nguơn tận diệt lắm điều nguy.

Thầy ban ơn các con. Thầy thăng.