Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

Dinar vàng



Dinar vàng

Lo danh vọng, hao mòn thân thể,
Ham làm giàu, của để bằng non;
Một mai nhắm mắt đâu còn
Đem vàng chuộc mạng, đổi lòn đặng chăng?
Kinh Sám Hối


Ngày nay, dinar (tiền giấy) là đơn vị tiền tệ ở nhiều nước như Algeria, Bahrain, Iraq, Jordan,Kuwait. Lybia, Macedonia, Serbia, Tunisia, v.v... Nhưng xưa kia, dinar vàng (gold dinar) là đồng tiền đúc bằng vàng được lưu hành tại các nước theo đạo Islam ở Tây Nam Á, Bắc Phi và Nam Âu. Đồng dinar vàng đầu tiên được đúc và phát hành vào thế kỷ 7 ở Ả Rập Saudi dưới vương triều Abd al-Malik bin Marwan (646-705). Có tài liệu cho biết một dinar nặng 4,25 gam vàng.
Đây là chuyện tôi nghe:
Một nhà buôn Ả Rập nọ suốt đời chỉ lo kiếm tiền, khao khát làm giàu. Ông tích lũy được ba trăm ngàn dinar vàng, chưa kể ruộng đất, dinh thự. Mãn nguyện, ông bắt đầu nghĩ tới chuyện hưởng nhàn cho bõ công rất nhiều năm lao nhọc thân xác và hao tổn tinh thần.
Ông chưa kịp lập kế hoạch hưởng thụ thì Thần Chết chợt ghé vào nhà, bảo rằng tới lúc ông phải ra đi.
Hoảng sợ, ông nhà giàu tha thiết cầu xin Thần Chết hãy hoãn cho ông sống thêm ba ngày, ông sẽ dâng hiến một trăm ngàn dinar vàng để tạ ơn.
Thần Chết lắc đầu, nắm tay ông lôi đi.
Ông cố sức vùng ra, rồi quỳ xuống khóc lóc thảm thiết:
- Hãy cho con sống thêm một ngày, và con xin cúng Ngài hai trăm ngàn dinar vàng.
Thần Chết làm thinh. Ông liền nằm bẹp xuống sàn, ôm chặt chân Thần Chết, cố năn nỉ:
- Con chỉ xin sống thêm một giờ và Ngài hãy lấy hết ba trăm ngàn dinar vàng của con.
Thần Chết cúi xuống, gỡ tay ông ra.
Thấy vẻ kiên quyết của Thần Chết, ông thở dài rồi khẩn nài lần chót:
- Thôi, đành vậy! Nhưng cho con nhắn lại một lời.
Thần Chết gật đầu.
Ông nhà giàu liền cắn đầu ngón tay, viết vội trên nền gạch men trắng bóng dòng chữ máu:
Ba trăm ngàn dinar vàng không đổi được một giờ sống thêm! Hãy quý đời mình. Hãy sống có ích.
Bà Chiểu, 28-3-2012
Huệ Khải
CGvDT số 1851, ngày 30-3-2012

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

Dưới bóng cờ Đại Đạo


Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Người hiếm có




NGƯỜI HIẾM CÓ

Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi,
nghĩa là trong xác thịt tôi.”
(Rôma 7:18)


Chở tôi đi thăm một bạn đồng nghiệp nghỉ hưu, anh bảo:
- Mình đi tắt, gần hơn mà ít xe. Đường nhỏ nhưng thường thông thoáng.
Từ phía Lăng Ông Bà Chiểu, qua khỏi trường học, gần tới Cầu Bông thì anh rẽ phải vào đường Vũ Huy Tấn. Sắp quẹo trái để lên cầu Hoàng Hoa Thám, gặp đèn đỏ, anh dừng lại. Ngồi phía sau, gãi gãi vào lưng áo anh, tôi trêu:
- Đường vắng, không cảnh sát giao thông, ngoan thế!
Anh cười hì hì, chẳng nói gì, đợi đèn xanh mới cho xe chạy lên cầu.
Cùng ngồi uống trà trong nhà người bạn ở Xóm Chùa, tôi kể lại chuyện chấp hành luật lệ giao thông của anh. Chủ nhà gật gù khen, giọng chẳng hề giễu cợt:
- Người hiếm có! Hiếm có!
Uống xong chén trà, ông giáo già nói thêm:
- Mà phải như vậy thôi.
Anh gật đầu, tỏ ý tán thành. Hai người vốn là tri kỷ, làm bạn tu tại gia (cư sĩ) với nhau bấy lâu, tôi đoán mình sắp được nghe một chủ đề vượt ra ngoài phạm vi đèn xanh, đèn đỏ.
Quả nhiên, anh thủng thỉnh mở lời:
- Thấy cảnh sát thì mình không phạm luật. Vắng bóng họ, mình chạy ẩu. Phần đông chúng ta đều làm như thế trong cuộc sống. Vô chùa thất, vào nhà thờ nói chung ai cũng cung kính, cẩn thận khi đứng trước tượng Phật, Chúa, Thánh Thần; nhưng hễ bước ra ngoài thì hay… lung tung. Chúng ta tôn kính hình ảnh, cốt tượng Đấng thiêng liêng trên bàn thờ nên biết giữ gìn mồm miệng, cử chỉ, hành vi. Trái lại, khi ở một mình, hoặc cho rằng không ai thấy ai biết, chúng ta dễ mắc lỗi, dễ sái quấy. Giá như chúng ta biết tin chắc, tin mạnh mẽ rằng trong chính ta lúc nào cũng thường trực có mặt một vị Phật, Chúa, Thánh Thần vô hình, một đấng Impersonal God, thì ta còn cẩn thận, giữ gìn hơn cả khi đứng trước một bàn thờ hữu hình trong thánh đường.
Chủ nhà rót thêm cho anh chén nước, gục gặc đầu tỏ vẻ đắc ý, và phụ họa:
- Hồi mới nhập môn Cao Đài, tụng Kinh Sám Hối, có hai câu tôi không hiểu:“Biết chước quỷ đánh lừa phá hoại/ Yếu đức tin nên phải lụy mình.” Sau này tôi mới vỡ lẽ như anh vừa nói. Nếu ta vững đức tin rằng trong thân xác ta đang có và luôn có Đấng thần minh ngự trị thì ta sẽ cố giữ mình để khỏi phạm lỗi. Có lần tôi đọc được câu này trong bài giảng của một vị mục sư người Mỹ:“Temptation is not sin, but a trial of my faith.” (Cám dỗ không phải là tội lỗi, mà là một thử thách đức tin của tôi.) Nói được như thế quả là đạt đạo. Nếu đức tin vào Phật Chúa nội tại (immanent) trong ta vững mạnh thì ta không dễ bị cám dỗ để vấp ngã, phạm tội.
Anh trầm ngâm một lúc rồi nhìn tôi, nói như tâm tình:
- Học đạo, có những câu đơn giản lắm! Có khi mình hiểu liền; có khi phải trải qua một thời gian chiêm nghiệm sau những trầy trật bản thân, bấy giờ mới bừng ngộ, nên càng thấm thía. Đức Tôn Sư dạy chúng tôi tu thiền là Đông Phương Lão Tổ. Hồi cuối năm Ất Tỵ (1965), khi khuyên chúng tôi phải luôn đề cao cảnh giác, kẻo dễ phạm lỗi, Ngài dạy: “Ở đời mạt kiếp này, đã là người thì không ai khỏi lỗi. Nhích chơn, hả miệng đã gây nên tội lỗi rồi, cần gì phải hành động?” Đó không phải là lời nói cường điệu. Hồi xưa, trong thư gởi tín hữu Rôma, Thánh Phaolô viết: “Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi.” Lúc đầu, mới tập đọc Kinh Thánh, tôi không hiểu vì sao trong một vị Thánh tông đồ mà lại có điều bất thiện. Lần hồi, tu học thêm được chút ít, tôi nghĩ Thánh Phaolô dạy như thế có lẽ để nhắn nhủ chúng ta rằng trong con người phàm tục vốn chất chứa nhiều ham muốn, nên chúng ta có xu hướng dễ phạm lỗi, mắc tội.
Chủ nhà tán thành:
- Mở đầu sách Trung Dung của đạo Khổng có mấy chữ này: “Cố quân tử thận kỳ độc dã.” Đại khái mình hiểu là người quân tử dù ở lẻ loi một mình cũng rất cẩn thận giữ gìn, không để dể duôi phạm lỗi rồi mới đi tụng Kinh Sám Hối. Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ dịch câu chữ Nho này thành lục bát quá hay:“Nên dù chiếc bóng tịch liêu / Đã là quân tử chẳng xiêu lòng vàng.”
Huệ Khải
Bà Chiểu, 18-9-2011
CGvDT số 1826, ngày 23-9-2011
Nguồn: Góc Nhà Huệ Khải

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Tâm sự của một mảnh đời bất hạnh


 Manh dời bất hạnh


TÂM SỰ CỦA MỘT MẢNH ĐỜI BẤT HẠNH

Cha ơi...Mẹ ơi...Thầy ơi! Xin cho con một lần được gọi...
Chẳng biết con sinh ra khi nào và ở đâu, chỉ biết rằng lớn lên con đã thấy mình ở trong cô nhi viện. Xung quanh con là những anh, những chị, những em mà con thấy rất thân quen. Họ cũng như con...


Lần đầu trong đời con được nghe hai chữ “Cha - Mẹ” là lúc con bước chân vào trường học. Con không hiểu Cha là gì, và Mẹ là gì! Con chỉ biết rằng các bạn trong lớp được Cha Mẹ đưa đón lúc đi học, còn anh chị em chúng con thì đi học bằng xe ba gác. Con thấy các bạn ấy thật hạnh phúc, và lần đầu tiên trong đời con biết ước mơ. Con ước mình cũng có Cha và Mẹ như các bạn (mặc dù khái niệm về Cha Mẹ với con lúc đó rất mong manh). Ước mơ của con nhỏ bé quá phải không Cha Mẹ? Vậy mà đến bây giờ con cũng chưa đạt được ước mơ nhỏ bé đó!


Trại trẻ mồ côi ngày ấy khổ lắm, chúng con thường xuyên bị đánh đập chỉ vì những việc làm mà một đứa trẻ thường làm (nô đùa, nghịch đất...).
Tuổi thơ của con trôi qua với những khổ cực, thiếu thốn tình yêu thương, thiếu một vòng tay che chở... Cuộc sống ấy đã làm cho con trở thành một con người thô lỗ, ngang bướng, lì lợm, khó dạy...và sống bất cần đời...

Rồi một ngày định mệnh, sau một trận đòn roi vì nghịch cát năm con lên 8 tuổi, con đã bỏ chạy ra khỏi cô nhi viện để tránh những làn roi khắc nghiệt...và hình như con đã bị lạc mất đường về. Sau đó là những chuỗi ngày lang thang cơ cực, từ bụi rậm cho đến gầm cầu, công viên, hiên nhà...chỗ nào cũng có thể cho con ngả lưng mỗi khi đêm về. Nhưng đói, khát, lạnh, sự sợ hãi luôn vây bủa lấy con như một tấm lưới dễ ghét. Toàn thân con đen đủi, dơ dáy...và bốc mùi... Vì đói nên con phải ăn thức ăn dư thừa trong các quán ăn. Một số người vì thấy tội nghiệp con nên họ cho con một hai đồng tiền lẻ, nhưng rồi cũng bị đàn anh đàn chị lấy mất. Cuộc sống của con cơ cực như thế đấy, không biết ở một nơi nào đó, trên cuộc hành trình của mình, Cha Mẹ có nghĩ đến con - đứa con gái bị bỏ rơi khi còn trứng nước này không??? Không biết Cha Mẹ có động lòng trắc ẩn khi vô tình đi ngang qua một con phố nào đó, gặp những đứa bé đói khát, rách rưới đang lang thang, và chợt nhớ ra rằng ngày xưa cũng đã từng bỏ rơi một sinh linh bé nhỏ?! “Thằng bé nằm co ro như dấu chấm hỏi(?), dấu chấm hỏi đặt giữa cuộc đời: Cha ơi Cha là ai? Mẹ ơi Mẹ là ai?”, lời bài hát như ai oán lúc nào cũng trong tâm trí con, và cắt vào trái tim con những vết thương không thể nào lành. Phải chăng con cũng đang oán hận Cha Mẹ?!

Dòng thời gian cứ mãi trôi, vào một ngày mưa gió, một ngày định mệnh, như ngày mà Cha Mẹ bỏ rơi con, và ngày con chạy khỏi cô nhi viện, có một người phụ nữ với gương mặt thật hiền, đặt bàn tay ấm áp vào vai con khi con đang nằm co ro trên vỉa hè và run lên vì đói khát, vì giá lạnh. Người phụ nữ đó đã đưa con đến bệnh viện, và khi biết con không có người thân thì đã động lòng thương và đưa con về làm con nuôi. Người phụ nữ ấy không có con vì chồng bà mất sớm, bà sống với lòng chung thủy và đức hạnh của một người phụ nữ.Con thật hạnh phúc, vì giờ đây con đã có Mẹ. Nhưng niềm vui và hạnh phúc ấy cũng không mỉm cười với con. Vì gia đình người phụ nữa ấy sợ sau này lớn lên con sẽ thừa kế tài sản, nên họ không muốn con ở lại. Cuối cùng người phụ nữ ấy phải bỏ xứ ra đi, bỏ cả tâm huyết của một nhà giáo, buôn tảo bán tần bằng đôi quang gánh nuôi con. Ngày ấy, con không hiểu tại sao người ta lại có thể coi trọng vật chất mà quên đi tình người?! Có khi nào Cha Mẹ ngày xưa cũng vì vật chất mà bỏ rơi con không? Và con cũng tự hỏi, tại sao người ta có thể hy sinh cả bản thân, vật chất, danh lợi vì con - người không có quan hệ máu mủ với họ! Nghịch lý quá phải không Cha Mẹ? Một nghịch lý đau lòng...


Rồi một ngày Mẹ nuôi đưa con đến chùa lễ Phật. Lần đầu tiên trong đời con thấy được nụ cười đẹp và hiền đến thế - nụ cười của Đức Phật Thích Ca. Và lần đầu tiên con thấy những con người thật hiền và thanh thoát lạ thường. Đó là quý Thầy trong chùa. Ngay ngày hôm ấy con xin Mẹ được lên chùa ở, và Mẹ đã đồng ý. Mãi sau này con mới biết, Mẹ cố tình đưa con đến chùa để gieo hạt giống Bồ Đề trong con. Con cảm ơn Mẹ thật nhiều, nhờ tình yêu của Mẹ mà con có ngày hôm nay.


Và một bước ngoặt nữa, con đi xuất gia học đạo. Nhưng có lẽ vì phước mỏng nghiệp dày, nên con đã không tìm được minh sư. Rồi vào một ngày (chắc cũng là định mệnh), Thầy đã làm sụp đổ niềm tin thánh thiện nơi con. Con âm thầm lặng lẽ ra đi...lại là cuộc sống lang thang... Đã có lúc con muốn bỏ cuộc, đã 4 lần con tự tử vì thất vọng, vì khổ đau, nhưng không hiểu sao con vẫn chưa thể chạm vào tay thần chết. Có lẽ vì nghiệp con phải trả còn nhiều... Và cũng lại mồ côi...đời mồ côi...đạo mồ côi... Con đã phải cố gắng vươn lên, khi không có Thầy chỉ đường dẫn lối, động viên nhắc nhở những khi thất vọng, lầm lỗi.


Giờ đây, qua bao giông tố cuộc đời, con đã chín chắn hơn, mạnh mẽ hơn, kiên cường hơn. Biết sống vị tha, biết yêu thương, biết hy sinh, biết thấu cảm.
Con đã không còn oán hận Cha Mẹ đã bỏ rơi con, không còn ghét bỏ người đã cướp mất niềm tin của con vì con hiểu đó là nghiệp và con đang bình tâm đối diện với nghiệp đã gây tạo từ quá khứ. Nhưng con mong mỏi lắm, mơ ước lắm được gọi những từ tưởng như rất đỗi bình thường với bao người (nhưng với con thì thật khó) một lần trong hạnh phúc… Cha ơi...Mẹ ơi...Thầy ơi...

Niềm vui của con bây giờ là được tu tập để có sự bình an và chân hạnh phúc, phụng sự để xoa dịu những nỗi đau, đem đến cuộc đời dòng sữa của tình thương vi diệu, như lời nguyện sâu chắc của người con Phật “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hoài” bằng chính sự thấu cảm của mình với cuộc đời.
Đi giữa lòng thành phố bây giờ, con gặp lại chính con của ngày xưa.
Tâm nguyện lớn nhất của con bây giờ là, đừng có ai nhẫn tâm bỏ rơi giọt máu của mình, để đừng có những mảnh đời cơ cực và bất hạnh như con, để rồi lại khao khát trong khắc khoải những âm thanh...Cha ơi...Mẹ ơi...
Góc Nhỏ Cuộc Đời

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012

Cẩn ngôn

 

CẨN NGÔN

Ngày xưa ở một vùng nọ, có một người thiếu phụ trẻ khá xinh đẹp. Chồng cô đi lính xa nhà, người thiếu phụ ấy phải ở nhà với mẹ chồng. Cô chăm sóc mẹ chồng và mọi chuyện trong nhà rất chu đáo. Mọi người trong vùng ai cũng thầm khen cô là người nết na… Trong vùng không ít đàn ông yêu cô vì cô còn trẻ và xinh đẹp.
Trong số đó có tên yêu cô đến điên cuồng. Nhiều lần tán tỉnh cô nhưng đều bị cô từ chối. Hắn từ yêu hóa ra căm hận. Hắn đi rêu rao khắp làng rằng cô đã không giữ tròn trinh tiết của người vợ, là một người phụ nữ thiếu đức hạnh. Tin đồn cứ truyền khắp nơi trong vùng, mọi người nhìn cô với một ánh mắt khác đi. Rồi tin đồn cũng tới tai bà mẹ chồng của cô. Bà nghi ngờ và đối xử khác với cô. Không thể nào chịu nổi những lời dèm pha của mọi người, lại bị người thân xa cách, cô buồn lắm.
Một lần quá đỗi tuyệt vọng cô đã tìm đến cái chết. Cái chết của cô làm cho tên đã tung những tin đồn không hay về cô vô cùng ân hận và hối lỗi. Hắn cảm thấy bị lương tâm dằn vặt. Hắn tìm đến cụ già nhất làng và là người hiểu biết nhất để kể hết mọi chuyện và xin ông một lời khuyên.
Cụ già nghe xong mọi chuyện không nói gì dẫn hắn lên trên ngọn đồi của làng. Cụ xé chiếc gối và thả xuống. Những bông gòn theo gió bay đi mọi hướng. Cụ già bảo hắn đi nhặt lại những bông gòn đó rồi dồn lại vào gối. Hắn ngạc nhiên lắm, vì làm sao có thể nhặt được đấy đủ. Cụ già nhìn hắn rồi nghiêm nghị nói:
Những lời do con người nói ra cũng như những bông gòn kia vậy, không thể nào lấy lại được. Khi lời đã nói ra thì làm sao có thể rút lại được.
Linh Chi

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

Vô thường


 

VÔ THƯỜNG

Cuộc đời như giấc chiêm bao,
Có chăng cũng chỉ tan vào hư không.
Biết thế cũng đừng nên trông,
Mà ta phải cố gắng công tu hành.
Đời người ngắn ngủi chớ mê say,
Ráng lo niệm Phật gấp đêm ngày.

Vô thường tấn tốc nào ai biết,
Chớ nên lần lựa hẹn nay mai.
Chớ để tuổi già mới niệm Phật,
Mồ hoang lắm kẻ tuổi còn xanh.
Nguồn: FB Vô Minh