Tìm hiểu về Đạo Cao Đài, Tôn Giáo Cao Đài, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Trang Web Cao Đài, Nghệ Thuật Sống, Kỹ Năng Sống, Kỹ Năng Giao Tiếp, Cửa Sổ Tâm Hồn, Tìm hiểu về Kinh Dịch...
Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012
Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012
Người hiếm có
NGƯỜI
HIẾM CÓ
“Tôi biết rằng sự thiện không ở trong
tôi,
nghĩa là trong xác thịt tôi.”
(Rôma 7:18)
Chở tôi đi thăm một bạn đồng nghiệp nghỉ hưu, anh bảo:
- Mình đi tắt, gần hơn mà ít xe. Đường nhỏ nhưng thường thông
thoáng.
Từ phía Lăng Ông Bà Chiểu, qua khỏi trường học, gần tới Cầu Bông
thì anh rẽ phải vào đường Vũ Huy Tấn. Sắp quẹo trái để lên cầu Hoàng Hoa Thám,
gặp đèn đỏ, anh dừng lại. Ngồi phía sau, gãi gãi vào lưng áo anh, tôi trêu:
- Đường vắng, không cảnh sát giao thông, ngoan thế!
Anh cười hì hì, chẳng nói gì, đợi đèn xanh mới cho xe chạy lên
cầu.
Cùng ngồi uống trà trong nhà người bạn ở Xóm Chùa, tôi kể lại
chuyện chấp hành luật lệ giao thông của anh. Chủ nhà gật gù khen, giọng chẳng
hề giễu cợt:
- Người hiếm có! Hiếm có!
Uống xong chén trà, ông giáo già nói thêm:
- Mà phải như vậy thôi.
Anh gật đầu, tỏ ý tán thành. Hai người vốn là tri kỷ, làm bạn tu
tại gia (cư sĩ) với nhau bấy lâu, tôi đoán mình sắp được nghe một chủ đề vượt
ra ngoài phạm vi đèn xanh, đèn đỏ.
Quả nhiên, anh thủng thỉnh mở lời:
- Thấy cảnh sát thì mình không phạm luật. Vắng bóng họ, mình chạy
ẩu. Phần đông chúng ta đều làm như thế trong cuộc sống. Vô chùa thất, vào nhà
thờ nói chung ai cũng cung kính, cẩn thận khi đứng trước tượng Phật, Chúa,
Thánh Thần; nhưng hễ bước ra ngoài thì hay… lung tung. Chúng ta tôn kính hình ảnh, cốt tượng Đấng
thiêng liêng trên bàn thờ nên biết giữ gìn mồm miệng, cử chỉ, hành vi. Trái
lại, khi ở một mình, hoặc cho rằng không ai thấy ai biết, chúng ta dễ mắc lỗi,
dễ sái quấy. Giá như chúng ta biết tin chắc, tin mạnh
mẽ rằng trong chính ta lúc nào cũng thường trực có mặt một vị Phật, Chúa, Thánh
Thần vô hình, một đấng Impersonal
God, thì ta còn cẩn thận, giữ gìn hơn cả khi đứng trước một bàn thờ hữu
hình trong thánh đường.
Chủ nhà rót thêm cho anh chén nước, gục gặc đầu tỏ vẻ đắc ý, và phụ
họa:
- Hồi mới nhập môn Cao Đài, tụng Kinh Sám Hối, có hai câu tôi không
hiểu:“Biết chước quỷ đánh lừa phá hoại/ Yếu đức tin nên phải lụy mình.” Sau này tôi mới vỡ lẽ như anh vừa nói.
Nếu ta vững đức tin rằng trong thân xác ta đang có và luôn có Đấng thần minh
ngự trị thì ta sẽ cố giữ mình để khỏi phạm lỗi. Có lần tôi đọc được câu này
trong bài giảng của một vị mục sư người Mỹ:“Temptation is not sin, but a
trial of my faith.” (Cám dỗ không phải là tội lỗi, mà là một thử
thách đức tin của tôi.) Nói
được như thế quả là đạt đạo. Nếu
đức tin vào Phật Chúa nội tại (immanent) trong ta vững mạnh thì ta không
dễ bị cám dỗ để vấp ngã, phạm tội.
Anh trầm ngâm một lúc rồi nhìn tôi, nói như tâm tình:
- Học đạo, có những câu đơn giản lắm! Có khi mình hiểu liền; có khi
phải trải qua một thời gian chiêm nghiệm sau những trầy trật bản thân, bấy giờ
mới bừng ngộ, nên càng thấm thía. Đức Tôn Sư dạy chúng tôi tu thiền là Đông
Phương Lão Tổ. Hồi cuối năm Ất Tỵ (1965), khi khuyên chúng tôi phải luôn đề cao
cảnh giác, kẻo dễ phạm lỗi, Ngài dạy: “Ở đời mạt kiếp này, đã là người thì không
ai khỏi lỗi. Nhích chơn, hả miệng đã gây nên tội lỗi rồi, cần gì phải hành
động?” Đó không phải là lời nói cường điệu. Hồi xưa, trong thư gởi tín hữu
Rôma, Thánh Phaolô viết: “Tôi
biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi.” Lúc đầu, mới tập đọc Kinh Thánh, tôi
không hiểu vì sao trong một vị Thánh tông đồ mà lại có điều bất thiện. Lần hồi, tu học thêm được chút ít, tôi nghĩ
Thánh Phaolô dạy như thế có lẽ để nhắn nhủ chúng ta rằng trong con người phàm
tục vốn chất chứa nhiều ham muốn, nên chúng ta có xu hướng dễ phạm lỗi, mắc
tội.
Chủ nhà tán thành:
- Mở đầu sách Trung
Dung của đạo Khổng có mấy chữ
này: “Cố quân tử thận kỳ độc dã.” Đại khái mình hiểu là người quân tử dù ở
lẻ loi một mình cũng rất cẩn thận giữ gìn, không để dể duôi phạm lỗi rồi mới đi
tụng Kinh Sám Hối. Bác sĩ
Nguyễn Văn Thọ dịch câu chữ Nho này thành lục bát quá hay:“Nên dù chiếc bóng tịch liêu / Đã là quân tử
chẳng xiêu lòng vàng.”
Huệ Khải
Bà Chiểu, 18-9-2011
CGvDT số 1826, ngày 23-9-2011
Nguồn: Góc Nhà Huệ Khải
Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012
Tâm sự của một mảnh đời bất hạnh
TÂM SỰ CỦA MỘT MẢNH ĐỜI BẤT HẠNH
Cha ơi...Mẹ ơi...Thầy ơi! Xin cho con một lần được
gọi...
Chẳng biết con sinh ra khi nào và ở đâu, chỉ biết rằng lớn lên con đã thấy mình ở trong cô nhi viện. Xung quanh con là những anh, những chị, những em mà con thấy rất thân quen. Họ cũng như con...
Lần đầu trong đời con được nghe hai chữ “Cha - Mẹ” là lúc con bước chân vào trường học. Con không hiểu Cha là gì, và Mẹ là gì! Con chỉ biết rằng các bạn trong lớp được Cha Mẹ đưa đón lúc đi học, còn anh chị em chúng con thì đi học bằng xe ba gác. Con thấy các bạn ấy thật hạnh phúc, và lần đầu tiên trong đời con biết ước mơ. Con ước mình cũng có Cha và Mẹ như các bạn (mặc dù khái niệm về Cha Mẹ với con lúc đó rất mong manh). Ước mơ của con nhỏ bé quá phải không Cha Mẹ? Vậy mà đến bây giờ con cũng chưa đạt được ước mơ nhỏ bé đó!
Trại trẻ mồ côi ngày ấy khổ lắm, chúng con thường xuyên bị đánh đập chỉ vì những việc làm mà một đứa trẻ thường làm (nô đùa, nghịch đất...). Tuổi thơ của con trôi qua với những khổ cực, thiếu thốn tình yêu thương, thiếu một vòng tay che chở... Cuộc sống ấy đã làm cho con trở thành một con người thô lỗ, ngang bướng, lì lợm, khó dạy...và sống bất cần đời...
Rồi một ngày định mệnh, sau một trận đòn roi vì nghịch cát năm con lên 8 tuổi, con đã bỏ chạy ra khỏi cô nhi viện để tránh những làn roi khắc nghiệt...và hình như con đã bị lạc mất đường về. Sau đó là những chuỗi ngày lang thang cơ cực, từ bụi rậm cho đến gầm cầu, công viên, hiên nhà...chỗ nào cũng có thể cho con ngả lưng mỗi khi đêm về. Nhưng đói, khát, lạnh, sự sợ hãi luôn vây bủa lấy con như một tấm lưới dễ ghét. Toàn thân con đen đủi, dơ dáy...và bốc mùi... Vì đói nên con phải ăn thức ăn dư thừa trong các quán ăn. Một số người vì thấy tội nghiệp con nên họ cho con một hai đồng tiền lẻ, nhưng rồi cũng bị đàn anh đàn chị lấy mất. Cuộc sống của con cơ cực như thế đấy, không biết ở một nơi nào đó, trên cuộc hành trình của mình, Cha Mẹ có nghĩ đến con - đứa con gái bị bỏ rơi khi còn trứng nước này không??? Không biết Cha Mẹ có động lòng trắc ẩn khi vô tình đi ngang qua một con phố nào đó, gặp những đứa bé đói khát, rách rưới đang lang thang, và chợt nhớ ra rằng ngày xưa cũng đã từng bỏ rơi một sinh linh bé nhỏ?! “Thằng bé nằm co ro như dấu chấm hỏi(?), dấu chấm hỏi đặt giữa cuộc đời: Cha ơi Cha là ai? Mẹ ơi Mẹ là ai?”, lời bài hát như ai oán lúc nào cũng trong tâm trí con, và cắt vào trái tim con những vết thương không thể nào lành. Phải chăng con cũng đang oán hận Cha Mẹ?!
Dòng thời gian cứ mãi trôi, vào một ngày mưa gió, một ngày định mệnh, như ngày mà Cha Mẹ bỏ rơi con, và ngày con chạy khỏi cô nhi viện, có một người phụ nữ với gương mặt thật hiền, đặt bàn tay ấm áp vào vai con khi con đang nằm co ro trên vỉa hè và run lên vì đói khát, vì giá lạnh. Người phụ nữ đó đã đưa con đến bệnh viện, và khi biết con không có người thân thì đã động lòng thương và đưa con về làm con nuôi. Người phụ nữ ấy không có con vì chồng bà mất sớm, bà sống với lòng chung thủy và đức hạnh của một người phụ nữ.Con thật hạnh phúc, vì giờ đây con đã có Mẹ. Nhưng niềm vui và hạnh phúc ấy cũng không mỉm cười với con. Vì gia đình người phụ nữa ấy sợ sau này lớn lên con sẽ thừa kế tài sản, nên họ không muốn con ở lại. Cuối cùng người phụ nữ ấy phải bỏ xứ ra đi, bỏ cả tâm huyết của một nhà giáo, buôn tảo bán tần bằng đôi quang gánh nuôi con. Ngày ấy, con không hiểu tại sao người ta lại có thể coi trọng vật chất mà quên đi tình người?! Có khi nào Cha Mẹ ngày xưa cũng vì vật chất mà bỏ rơi con không? Và con cũng tự hỏi, tại sao người ta có thể hy sinh cả bản thân, vật chất, danh lợi vì con - người không có quan hệ máu mủ với họ! Nghịch lý quá phải không Cha Mẹ? Một nghịch lý đau lòng...
Rồi một ngày Mẹ nuôi đưa con đến chùa lễ Phật. Lần đầu tiên trong đời con thấy được nụ cười đẹp và hiền đến thế - nụ cười của Đức Phật Thích Ca. Và lần đầu tiên con thấy những con người thật hiền và thanh thoát lạ thường. Đó là quý Thầy trong chùa. Ngay ngày hôm ấy con xin Mẹ được lên chùa ở, và Mẹ đã đồng ý. Mãi sau này con mới biết, Mẹ cố tình đưa con đến chùa để gieo hạt giống Bồ Đề trong con. Con cảm ơn Mẹ thật nhiều, nhờ tình yêu của Mẹ mà con có ngày hôm nay.
Và một bước ngoặt nữa, con đi xuất gia học đạo. Nhưng có lẽ vì phước mỏng nghiệp dày, nên con đã không tìm được minh sư. Rồi vào một ngày (chắc cũng là định mệnh), Thầy đã làm sụp đổ niềm tin thánh thiện nơi con. Con âm thầm lặng lẽ ra đi...lại là cuộc sống lang thang... Đã có lúc con muốn bỏ cuộc, đã 4 lần con tự tử vì thất vọng, vì khổ đau, nhưng không hiểu sao con vẫn chưa thể chạm vào tay thần chết. Có lẽ vì nghiệp con phải trả còn nhiều... Và cũng lại mồ côi...đời mồ côi...đạo mồ côi... Con đã phải cố gắng vươn lên, khi không có Thầy chỉ đường dẫn lối, động viên nhắc nhở những khi thất vọng, lầm lỗi.
Giờ đây, qua bao giông tố cuộc đời, con đã chín chắn hơn, mạnh mẽ hơn, kiên cường hơn. Biết sống vị tha, biết yêu thương, biết hy sinh, biết thấu cảm. Con đã không còn oán hận Cha Mẹ đã bỏ rơi con, không còn ghét bỏ người đã cướp mất niềm tin của con vì con hiểu đó là nghiệp và con đang bình tâm đối diện với nghiệp đã gây tạo từ quá khứ. Nhưng con mong mỏi lắm, mơ ước lắm được gọi những từ tưởng như rất đỗi bình thường với bao người (nhưng với con thì thật khó) một lần trong hạnh phúc… Cha ơi...Mẹ ơi...Thầy ơi...
Niềm vui của con bây giờ là được tu tập để có sự bình an và chân hạnh phúc, phụng sự để xoa dịu những nỗi đau, đem đến cuộc đời dòng sữa của tình thương vi diệu, như lời nguyện sâu chắc của người con Phật “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hoài” bằng chính sự thấu cảm của mình với cuộc đời.
Đi giữa lòng thành phố bây giờ, con gặp lại chính con của ngày xưa. Tâm nguyện lớn nhất của con bây giờ là, đừng có ai nhẫn tâm bỏ rơi giọt máu của mình, để đừng có những mảnh đời cơ cực và bất hạnh như con, để rồi lại khao khát trong khắc khoải những âm thanh...Cha ơi...Mẹ ơi...
Chẳng biết con sinh ra khi nào và ở đâu, chỉ biết rằng lớn lên con đã thấy mình ở trong cô nhi viện. Xung quanh con là những anh, những chị, những em mà con thấy rất thân quen. Họ cũng như con...
Lần đầu trong đời con được nghe hai chữ “Cha - Mẹ” là lúc con bước chân vào trường học. Con không hiểu Cha là gì, và Mẹ là gì! Con chỉ biết rằng các bạn trong lớp được Cha Mẹ đưa đón lúc đi học, còn anh chị em chúng con thì đi học bằng xe ba gác. Con thấy các bạn ấy thật hạnh phúc, và lần đầu tiên trong đời con biết ước mơ. Con ước mình cũng có Cha và Mẹ như các bạn (mặc dù khái niệm về Cha Mẹ với con lúc đó rất mong manh). Ước mơ của con nhỏ bé quá phải không Cha Mẹ? Vậy mà đến bây giờ con cũng chưa đạt được ước mơ nhỏ bé đó!
Trại trẻ mồ côi ngày ấy khổ lắm, chúng con thường xuyên bị đánh đập chỉ vì những việc làm mà một đứa trẻ thường làm (nô đùa, nghịch đất...). Tuổi thơ của con trôi qua với những khổ cực, thiếu thốn tình yêu thương, thiếu một vòng tay che chở... Cuộc sống ấy đã làm cho con trở thành một con người thô lỗ, ngang bướng, lì lợm, khó dạy...và sống bất cần đời...
Rồi một ngày định mệnh, sau một trận đòn roi vì nghịch cát năm con lên 8 tuổi, con đã bỏ chạy ra khỏi cô nhi viện để tránh những làn roi khắc nghiệt...và hình như con đã bị lạc mất đường về. Sau đó là những chuỗi ngày lang thang cơ cực, từ bụi rậm cho đến gầm cầu, công viên, hiên nhà...chỗ nào cũng có thể cho con ngả lưng mỗi khi đêm về. Nhưng đói, khát, lạnh, sự sợ hãi luôn vây bủa lấy con như một tấm lưới dễ ghét. Toàn thân con đen đủi, dơ dáy...và bốc mùi... Vì đói nên con phải ăn thức ăn dư thừa trong các quán ăn. Một số người vì thấy tội nghiệp con nên họ cho con một hai đồng tiền lẻ, nhưng rồi cũng bị đàn anh đàn chị lấy mất. Cuộc sống của con cơ cực như thế đấy, không biết ở một nơi nào đó, trên cuộc hành trình của mình, Cha Mẹ có nghĩ đến con - đứa con gái bị bỏ rơi khi còn trứng nước này không??? Không biết Cha Mẹ có động lòng trắc ẩn khi vô tình đi ngang qua một con phố nào đó, gặp những đứa bé đói khát, rách rưới đang lang thang, và chợt nhớ ra rằng ngày xưa cũng đã từng bỏ rơi một sinh linh bé nhỏ?! “Thằng bé nằm co ro như dấu chấm hỏi(?), dấu chấm hỏi đặt giữa cuộc đời: Cha ơi Cha là ai? Mẹ ơi Mẹ là ai?”, lời bài hát như ai oán lúc nào cũng trong tâm trí con, và cắt vào trái tim con những vết thương không thể nào lành. Phải chăng con cũng đang oán hận Cha Mẹ?!
Dòng thời gian cứ mãi trôi, vào một ngày mưa gió, một ngày định mệnh, như ngày mà Cha Mẹ bỏ rơi con, và ngày con chạy khỏi cô nhi viện, có một người phụ nữ với gương mặt thật hiền, đặt bàn tay ấm áp vào vai con khi con đang nằm co ro trên vỉa hè và run lên vì đói khát, vì giá lạnh. Người phụ nữ đó đã đưa con đến bệnh viện, và khi biết con không có người thân thì đã động lòng thương và đưa con về làm con nuôi. Người phụ nữ ấy không có con vì chồng bà mất sớm, bà sống với lòng chung thủy và đức hạnh của một người phụ nữ.Con thật hạnh phúc, vì giờ đây con đã có Mẹ. Nhưng niềm vui và hạnh phúc ấy cũng không mỉm cười với con. Vì gia đình người phụ nữa ấy sợ sau này lớn lên con sẽ thừa kế tài sản, nên họ không muốn con ở lại. Cuối cùng người phụ nữ ấy phải bỏ xứ ra đi, bỏ cả tâm huyết của một nhà giáo, buôn tảo bán tần bằng đôi quang gánh nuôi con. Ngày ấy, con không hiểu tại sao người ta lại có thể coi trọng vật chất mà quên đi tình người?! Có khi nào Cha Mẹ ngày xưa cũng vì vật chất mà bỏ rơi con không? Và con cũng tự hỏi, tại sao người ta có thể hy sinh cả bản thân, vật chất, danh lợi vì con - người không có quan hệ máu mủ với họ! Nghịch lý quá phải không Cha Mẹ? Một nghịch lý đau lòng...
Rồi một ngày Mẹ nuôi đưa con đến chùa lễ Phật. Lần đầu tiên trong đời con thấy được nụ cười đẹp và hiền đến thế - nụ cười của Đức Phật Thích Ca. Và lần đầu tiên con thấy những con người thật hiền và thanh thoát lạ thường. Đó là quý Thầy trong chùa. Ngay ngày hôm ấy con xin Mẹ được lên chùa ở, và Mẹ đã đồng ý. Mãi sau này con mới biết, Mẹ cố tình đưa con đến chùa để gieo hạt giống Bồ Đề trong con. Con cảm ơn Mẹ thật nhiều, nhờ tình yêu của Mẹ mà con có ngày hôm nay.
Và một bước ngoặt nữa, con đi xuất gia học đạo. Nhưng có lẽ vì phước mỏng nghiệp dày, nên con đã không tìm được minh sư. Rồi vào một ngày (chắc cũng là định mệnh), Thầy đã làm sụp đổ niềm tin thánh thiện nơi con. Con âm thầm lặng lẽ ra đi...lại là cuộc sống lang thang... Đã có lúc con muốn bỏ cuộc, đã 4 lần con tự tử vì thất vọng, vì khổ đau, nhưng không hiểu sao con vẫn chưa thể chạm vào tay thần chết. Có lẽ vì nghiệp con phải trả còn nhiều... Và cũng lại mồ côi...đời mồ côi...đạo mồ côi... Con đã phải cố gắng vươn lên, khi không có Thầy chỉ đường dẫn lối, động viên nhắc nhở những khi thất vọng, lầm lỗi.
Giờ đây, qua bao giông tố cuộc đời, con đã chín chắn hơn, mạnh mẽ hơn, kiên cường hơn. Biết sống vị tha, biết yêu thương, biết hy sinh, biết thấu cảm. Con đã không còn oán hận Cha Mẹ đã bỏ rơi con, không còn ghét bỏ người đã cướp mất niềm tin của con vì con hiểu đó là nghiệp và con đang bình tâm đối diện với nghiệp đã gây tạo từ quá khứ. Nhưng con mong mỏi lắm, mơ ước lắm được gọi những từ tưởng như rất đỗi bình thường với bao người (nhưng với con thì thật khó) một lần trong hạnh phúc… Cha ơi...Mẹ ơi...Thầy ơi...
Niềm vui của con bây giờ là được tu tập để có sự bình an và chân hạnh phúc, phụng sự để xoa dịu những nỗi đau, đem đến cuộc đời dòng sữa của tình thương vi diệu, như lời nguyện sâu chắc của người con Phật “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hoài” bằng chính sự thấu cảm của mình với cuộc đời.
Đi giữa lòng thành phố bây giờ, con gặp lại chính con của ngày xưa. Tâm nguyện lớn nhất của con bây giờ là, đừng có ai nhẫn tâm bỏ rơi giọt máu của mình, để đừng có những mảnh đời cơ cực và bất hạnh như con, để rồi lại khao khát trong khắc khoải những âm thanh...Cha ơi...Mẹ ơi...
Góc Nhỏ Cuộc Đời
Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012
Cẩn ngôn
CẨN NGÔN
Ngày xưa ở một vùng nọ, có
một người thiếu phụ trẻ khá xinh đẹp. Chồng cô đi lính xa nhà, người thiếu phụ
ấy phải ở nhà với mẹ chồng. Cô chăm sóc mẹ chồng và mọi chuyện trong nhà rất
chu đáo. Mọi người trong vùng ai cũng thầm khen cô là người nết na… Trong vùng
không ít đàn ông yêu cô vì cô còn trẻ và xinh đẹp.
Trong số đó có tên yêu cô đến điên cuồng.
Nhiều lần tán tỉnh cô nhưng đều bị cô từ chối. Hắn từ yêu hóa ra căm hận. Hắn
đi rêu rao khắp làng rằng cô đã không giữ tròn trinh tiết của người vợ, là một
người phụ nữ thiếu đức hạnh. Tin
đồn cứ truyền khắp nơi trong vùng, mọi người nhìn cô với một ánh mắt khác đi.
Rồi tin đồn cũng tới tai bà mẹ chồng của cô. Bà nghi ngờ và đối xử khác với cô.
Không thể nào chịu nổi những lời dèm pha của mọi người, lại bị người thân xa
cách, cô buồn lắm.
Một lần quá đỗi tuyệt vọng cô đã tìm đến
cái chết. Cái chết của cô làm cho tên đã tung những tin đồn không hay về cô vô
cùng ân hận và hối lỗi. Hắn cảm thấy bị lương tâm dằn vặt. Hắn tìm đến cụ già nhất
làng và là người hiểu biết nhất để kể hết mọi chuyện và xin ông một lời khuyên.
Cụ già nghe xong mọi chuyện không nói gì
dẫn hắn lên trên ngọn đồi của làng. Cụ xé chiếc gối và thả xuống. Những bông gòn theo gió bay đi mọi
hướng. Cụ già bảo hắn đi nhặt lại những bông gòn đó rồi dồn lại vào gối. Hắn ngạc nhiên lắm, vì làm sao có thể nhặt
được đấy đủ. Cụ già nhìn hắn rồi nghiêm nghị nói:
Những lời do con người nói ra cũng như
những bông gòn kia vậy, không thể nào lấy lại được. Khi lời đã nói ra thì làm
sao có thể rút lại được.
Linh Chi
Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012
Vô thường

VÔ THƯỜNG
Cuộc đời như giấc chiêm
bao,
Có chăng cũng chỉ tan vào hư không.
Biết thế cũng đừng nên trông,
Mà ta phải cố gắng công tu hành.
Có chăng cũng chỉ tan vào hư không.
Biết thế cũng đừng nên trông,
Mà ta phải cố gắng công tu hành.
Đời người ngắn ngủi
chớ mê say,
Ráng lo niệm Phật gấp đêm ngày.
Vô thường tấn tốc nào ai biết,
Chớ nên lần lựa hẹn nay mai.
Chớ để tuổi già mới niệm Phật,
Mồ hoang lắm kẻ tuổi còn xanh.
Ráng lo niệm Phật gấp đêm ngày.
Vô thường tấn tốc nào ai biết,
Chớ nên lần lựa hẹn nay mai.
Chớ để tuổi già mới niệm Phật,
Mồ hoang lắm kẻ tuổi còn xanh.
Nguồn: FB Vô Minh
Thứ Năm, 20 tháng 9, 2012
Điều người ăn chay cần biết
ĐIỀU NGƯỜI ĂN CHAY CẦN
BIẾT!
Dược sĩ QUÁCH HIỆP HƯNG
Ăn chay là một
trong những phương cách để thanh lọc cơ thể cũng như tâm hồn. Ăn chay là một
biện pháp để rèn luyện đức hạnh, tập khép mình trong khuôn khổ, hãm mình để
biết cảm thông chia sẻ cùng vạn linh sanh chúng.
Tinh thần ý nghĩa
là như thế, nhưng ngày nay việc ăn chay đã bị biến tướng quá nhiều! Cùng với
tiến bộ của khoa học công nghệ chế biến thực phẩm theo cùng phong trào ăn kiêng
của dân chúng những nước đã phát triển xuất hiện ngày càng nhiều.
Nơi đây chúng ta
phân biệt hai trường hợp: “đồ
chay giả mặn” và “đồ mặn giả chay”.
Với “đồ chay giả
mặn” là những món chay mà nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật được bàn tay
khéo léo của đầu bếp tạo nên với hình thức trông giống như đồ mặn. Thí dụ: thịt
heo quay (với bột năng, tàu hủ ky hay bánh mì chiên, ngũ vị hương), trứng cút
(với agar và đậu xanh) v.v…
Còn với các loại “đồ
chay Đài Loan” hiện nay mà thực chất phần lớn là “đồ mặn giả chay”. Có khá nhiều món khi được đem xét nghiệm,
người ta thấy có sự hiện diện của các ADN động vật!!! (Theo báo cáo từ Đài Loan vào ngày 10 tháng
6 năm 2004 ở một số trang web Phật giáo trên internet). Người sản xuất phải làm
như thế để có mùi và vị của món mặn hầu thu hút thực khách có nhu cầu “ăn
kiêng” của phương Tây (giảm mỡ và protid động vật) chứ không phải là ăn chay
theo quan niệm truyền thống của các tôn giáo phương Đông (tránh sát sanh). Các
món như “hem”, “mực”, “thịt bò viên” v.v… là những thí dụ điển hình.
Người Âu Mỹ phân
biệt hai mức độ ăn kiêng: những người ở cấp thứ nhứt được gọi là “Vegetarian”
tuy ăn rau củ nhiều nhưng vẫn có thể dùng trứng hay dùng nước súp động vật đã
loại bớt mỡ. Còn ở cấp thứ hai được gọi là “Vegan”, những người này ăn uống
đúng theo chế độ ăn chay truyền thống của Á Đông. Bởi thế khi vào một nhà hàng
ở Âu Mỹ gọi món chay, người quản lý nhà hàng sẽ hỏi thực khách ăn chay theo Á
Đông hay ăn kiêng để phục vụ đúng theo sở thích của khách hàng. Chúng tôi có
một người chị là chủ một nhà hàng ở Ontario – Canada, chị kể rằng khi khách
hàng nói ăn chay theo nhà Phật thì phải dọn thức ăn chỉ toàn rau củ nhưng nếu
khách nói ăn kiêng thì tô nước súp chay phải cho thêm một giá nước súp xương
heo hay xương bò tùy theo món mì hay phở để có vị và mùi như đồ mặn!
Vì thế tại những nhà
máy sản xuất thực phẩm ăn kiêng thuộc khu chế xuất Bình Dương, người ta có thể
thấy nguyên liệu là đầu tôm được mua lại từ nhà máy chế biến tôm xuất khẩu để
xay lấy nước cốt rồi hoà vào khối bột nhão với một ít màu cam trước khi qua máy
tạo hình để làm ra những con tôm. Tại đây cũng có những container nguyên liệu nhập khẩu với bao bì
ghi rõ: “xác thịt bò ép khô”, “bột cá”, “bột thịt”!
Việc sản xuất các
loại thực phẩm này đã đáp ứng được nhu cầu của một số đông người ăn kiêng ở
nhiều nước. Tuy nhiên do cách dịch sang tiếng Việt của một số nhà nhập khẩu
người Việt đã gây những hiểu lầm tai hại với những người ăn chay thật sự! Thay
vì phải dịch là “thực phẩm ăn kiêng” người ta lại dịch thành “thực phẩm chay”
cho nên đã gây sự lầm tưởng cho nhiều người!
Thấy thị trường đồ
chay có cơ hội phát triển nên hiện nay đã có nhiều cơ sở sản xuất nhỏ cũng bung
ra sản xuất chế biến. Để có thể tạo món chay có hình dáng và hương vị giống như
món mặn, người ta phải sử dụng nhiều loại hóa chất tạo mùi, tạo màu v.v… Sau
khi dùng các thực phẩm loại này, chúng ta rất dễ dàng cảm nhận được mùi hương
vẫn còn tồn tại trong nước tiểu trong khi nếu cũng dùng món đó là thủy hải sản
thật sự thì lại ít cảm nhận mùi trong nước tiểu. Đây là tín hiệu báo động cho biết người ta đã phải dùng một
tỷ lệ khá cao hóa chất để tạo nên mùi vị!
Với ý nghĩa ăn chay
để thanh lọc cơ thể thì trong trường hợp với những món chay có thực phẩm Đài
Loan, ngày nay với một trong những thương hiệu nổi tiếng như thực phẩm Âu Lạc,
đã đáp ứng nhu cầu ăn kiêng nhưng lại không đáp ứng được yêu cầu của người ăn
chay. Trái lại nếu thường xuyên ăn các món này, với người còn ăn chay kỳ, trong
một thời gian dài và ăn liên tục trong cả tháng như tháng giêng, tháng bảy hay
tháng mười v.v… thì không những
đã không thanh lọc được cơ thể mà trái lại đang tự cung cấp những tác nhân xấu,
đầu độc chính mình và sẽ gây ra một số bệnh về sau!
Còn đối với người
tu tịnh cao cấp, trong khi ăn chay trường đã phải cử “ngũ vị tân” mà lại “bị”
đưa các protein động vật cũng như hóa chất độc hại vào cơ thể thì thật là đáng
buồn!
Người nấu đồ chay
mà lại dùng nguyên liệu thực phẩm có nguồn gốc từ động vật thì không những đã
không trợ duyên cho người tu nên không được công đức mà trái lại đang vô tình
làm giảm phần phước đức của mình!!! Vì thế đây là vấn đề rất nghiêm trọng cho
các đầu bếp cũng như các quán tiệm chay giữa “phước” và “tội” !!!
Người còn ăn chay
kỳ với thói quen thích dùng các món chay Âu Lạc sẽ rất chậm tiến trên con đường
tiến hoá tâm linh vì tư tưởng hưởng thụ, khoái khẩu vẫn đeo mang nên nghiệp lực
cứ chồng chất thêm cao! Và tương lai ngày sau, sức khỏe chắc chắn cũng sẽ có
nhiều vấn đề!!!
Người đã tiến lên ăn
chay trường, cho dầu đã bước vào đường Thiên Đạo hay chưa, cũng không nên dùng
những món chay giả mặn có hình thức y như động vật. Thí dụ: trong món gỏi có
móng chân gà v.v… trong món lẩu có tôm, mực, v.v… vì “hình thức sẽ gây ý thức”.
Ăn chay mà mấy món mặn cứ còn lởn vởn trong đầu thì khó tu tiến!
Người tín hữu Cao
Đài, mức chuẩn của trai kỳ là dùng 10 ngày chay mỗi tháng, trong những ngày này
phải ý thức rõ như những vị đã bước lên hàng trường trai tịnh luyện, rằng không
được ăn những thực phẩm chay Đài Loan vì thực chất hầu như chỉ là đồ mặn.
Trong mỗi gia đình
và ở mỗi Thánh thất, Thánh tịnh vai trò của người đầu bếp phụ trách bếp ăn trở
nên hết sức quan trọng nhứt là phái nữ chiếm đa số. Những kiến thức về khoa học
dinh dưỡng và kỷ thuật chế biến khéo léo cùng với những hiểu biết về nguồn gốc
của các loại thực phẩm sẽ góp phần quan trọng giúp cho người thân trong nhà
mình và đạo hữu có được những buổi ăn chay ngon miệng đúng ý nghĩa chứ không vô
tình rơi vào hoàn cảnh bị ăn phải “đồ mặn giả chay”!
Hiện nay, nắm bắt
được nhu cầu của những người ăn chay chân chính theo quan niệm Đông phương, một
số nhà hàng chay VEGAN quảng cáo công khai thực đơn chay thuần thực vật để phục
vụ thực khách như thế cũng đáp ứng được nhu cầu “tu tiến” chánh đáng của một bộ
phận khách hàng.
Những quán chay, nhà
hàng có đề chữ Vegetarian, được hiểu chính xác chỉ là nơi bán đồ ăn
kiêng mà thôi.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)