Thứ Hai, 18 tháng 10, 2010

Tây Vương Thánh Mẫu Chơn Ngôn Kinh

 

TÂY VƯƠNG THÁNH MẪU
CHƠN NGÔN KINH
 ( Đàn tại Long-Xuyên đêm 14 rạng 15 tháng 8 năm Quí Dậu – 1933)



Tây-trúc thời kỳ dụng Thích-Ca,
Vương-môn để tiếng cậy Di-Đà;
Thánh phàm phân-biệt Du-Đà-Luận,
Mẫu tự kinh tàng Tát-Đản-Đa.
Chơn-Thể, Chơn-Thân đam Phật-Tánh,
Ngôn hành, ngôn sắc, dạy ta bà;
Giác-mê Thầy chuyển Tam-Kỳ Đạo,
Thế giới từ đây Một với Cha.
Đêm trong trắng, trắng trong như lọc,
Nghe tiếng con Mẹ phút chạnh lòng;
Bởi con mến chốn bụi hồng,
Nên con tách Mẹ trùng trùng ra đi.
Tưởng ra đi mãn kỳ trở lại,
Nào dè con chẳng đoái chẳng hoài;
Ra đi Mẹ dặn một hai,
Một hai phải tránh chông gai cuộc đời.
Dặn con phải giữ lời sau trước,
Bước hồng-trần là nước quỉ ma;
Dặn con chớ khá ta-bà,
Dặn con chớ khá kê cà mãi mê.
Dặn con nhớ cảnh quê làm trọng,
Dặn con thường để bụng nằm lòng;
Rằng loài ma quỉ phải phòng,
Rằng loài lưỡi mối nọc ong phải ngừa.
Dặn con phải sớm trưa kinh-kệ,
Dặn con đừng bê trễ công-trình;
Dặn con Mẹ dặn đinh-ninh,
Dặn con phải giữ phải gìn tấm thân.
Dặn con biết mấy lần trân trọng,
Mà con đành rẻ rúng lời khuyên;
Con đành gây cuộc não phiền,
Con đành gây cuộc trần-duyên lao-lồng.
Nay con thấm bẫy vòng cắn-xé,
Con mới đành nhớ Mẹ sao con;
Con ôi! Lòng Mẹ héo don!
Con ôi thân Mẹ vì con hao gầy.
Rày con được Ơn Thầy cứu-độ,
Đem con về phải chỗ phải nơi;
Khuyên con dạy phải nghe lời,
Khuyên con chớ khá giỡn chơi ích gì?
Tu phải biết Qui-Y làm báu,
Qui-Y là nương-náu cửa Trời;
Tu cho kịp tiết kịp thời,
Tu đừng xao lãng những lời Mẹ răn.
Nầy lời Mẹ ân-cần nhắc-nhở,
Thấy con thơ Mẹ ứa đôi hàng;
Thương con trước chịu lạc đàng,
Con ôi phận gái gian-nan não-nề.
Thương con gánh nhiều bề cay đắng,
Thương con dầm lửa nắng nước sương;
Con ôi phận gái đoạn-trường,
Con ôi phận gái chải-bương mới thành.
Tu phải biết việc lành việc dữ,
Tu chừa lòng bảy lự ba lo;
Thầy đà sau trước dặn dò,
Thầy đà chực sẵn chiếc đò Lý-Chơn.
Đò Chơn-Lý Chủ-Nhơn đã chọn,
Chơn qua đò khỏi tốn khỏi hao;
Miễn con trong trắng một màu,
Miễn con sau trước trước sau một niềm.
Tu phải giữ lặng êm là gốc,
Tu phải cha cái nọc nhiều lời;
Con ôi tai họa khắp nơi,
Tại người uốn lưỡi khua môi hại mình.
Giữ một dạ kỉnh-thành làm trước,
Lòng đừng lo họa, phước, có, không;
Có, không là luật chí-công,
Có, không, cũng tại nơi lòng các con.
Đêm thanh-vắng con tròn phận sự,
Đọc Kinh thì ráng giữ lấy mùi;
Đừng ngâm chót lưỡi đầu môi,
Mẹ còn lui tới, tới lui phân trần.
Đọc Kinh phải cân phân từ tiếng,
Tiếng Kinh là Kinh-Điển của Thầy;
Đọc Kinh gẫm được mùi hay,
Dẫu cho sắt, đá, cỏ, cây, cũng thành.
Gái cần giữ thân danh làm trước,
Kế quỉ ma nhiều nước tinh yêu;
Êm tai sáo quyển lòn chiều,
Nếu con nhắm mắt nghe liều hư thân.
Mẹ đã dạy nhiều lần cặn kẽ,
Quỉ thường xưng tên Mẹ lắm con;
Con nào gan yếu dạ non,
Nghe lời bưng bợ ngọt-ngon phải lầm.
Cách đi, đứng, ngồi, nằm, cẩn-thận,
Điệu mỏng mềm ấy phận người tu;
Tránh xa tiếng quến lời rù,
Tránh xa những bợm giả mù sa mưa.
Thấy nhiều trẻ bơ-thờ hõng-hẻo,
Tướng dịu-dàng yểu-điệu khá thương;
Tại sao mang số đoạn trường,
Tại quên những tiếng nghĩa phương ngọc-ngà.
Thương con dại thiết-tha tha-thiết,
Vui vẻ chi mài-miệt cõi trần;
Con ôi xét lấy nàng Hằng,
Trọn năm được thấy mấy lần đẹp xinh.
Mẹ hằng cậy nhắn tin cho trẻ,
Khuyên trẻ đừng bê-trễ công-trình;
Thương con Thầy phế Ngọc Kinh,
Rước con khỏi chốn hỏa-khanh đem về.
Con khá chớ bỏ bê lúc rảnh,
Lúc rảnh thường Tâm Tánh lãng xao;
Tánh Tâm xao lãng phân hào,
Tự nhiên con phải mỏn hao tinh-thần.
Tu phải trọng Chơn-Thân Chơn-Thể,
Thân-Thể nầy gốc rễ của con;
Chơn-Thân, Chơn-Thể, Chơn-Hồn,
Giữ gìn trong sạch mới còn gọi con.
Đừng vụng tưởng phấn son là sạch,
Son phấn làm Chơn-phách phải lu;
Mấy ai rọi kiếng trăng thu,
Mấy ai ngồi kiệu lấy dù che thân.
Đừng vụng tưởng cơ bần là nhục,
Cơ bần là chánh gốc mỗi con;
Lúc sanh đỏ lói một hòn,
Lúc về có kể vật chôn nhng gì?
Con phải nhớ lúc đi Thầy dặn,
Phải cho tròn bổn phận Thầy sai;
Đừng lo phú quí chông gai,
Phải cho xứng đáng Tam-Tài mới xinh.
Chánh Tam-Tài mới vinh mới quí,
Giả tiền-tài đồ mị phá chơn;
Con sao chưa rõ thiệt hơn,
Đã dư mấy kiếp đường trơn bước hoài.
Rày Mẹ nhắc chỗ sai con hiểu,
Hiểu được rồi Mẹ biểu phải nghe;
Nghe rồi cẩn-thận trăm bề,
Tránh đoàn kết đảng, lập phe phỉnh phờ.
Con phận gái lỡ cơ sao được,
Phải dặt dè từ bước mới ngoan;
Sao cho danh gái rỡ-ràng,
Chín mười cho đúng tuổi vàng Mẹ trao.
Cuộc trần thế ảo bào mộng ảnh,
Có chơn tu mới rảnh phù-sanh;
Muốn cho chơn thật tu hành,
Ráng lo gìn giữ kỉnh thành đừng quên.
Người ở thế đặt tên kể tuổi,
Tên tuổi nầy một buổi chẳng lâu;
Mấy tên phú quí công-hầu,
Có đem chi được để chầu Ngọc-Kinh.
Người ở thế danh thinh làm trước,
Thinh danh là cội phước sự tu;
Công, dung, ngôn, hạnh, làm đầu,
Lòng đừng mê-hoặc phải trau sửa mình.
Đừng tập lối văn-minh dối trá,
Văn-minh nầy quỉ phá mấy hơi;
Con ôi Mẹ đã cạn lời,
Rán cho trong sạch tên Người tuổi Ta.
Tên tuổi Ta bao la vũ-trụ,
Tên tuổi Người che phủ thế-gian;
Muốn cho tên tuổi miên tràng,
Ta, Người, tên, tuổi, vững-vàng chớ sai.
Người xuống thế ai ai cũng một,
Phải rõ Người là ruột với mình;
Với mình như một mới xinh,
Với mình như ruột mới rành tuổi tên.
Con phải nhớ chớ quên lời Mẹ,
Được thân người chẳng dễ đó con;
Tuổi tên được vậy mới còn,
Tuổi tên được vậy mới tròn thinh-danh.
Đừng tập nết trớ trinh lêu lỏng,
Theo tánh phàm học giọng cầu cao;
Chị em đừng tiếng mầy tao,
Chị em tiếng nói ngọt ngào mới ngoan.
Lời ăn nói dịu dàng mềm mỏng,
Mới làm cho trên trọng dưới vì;
Học chi cái giọng ngu-si,
Học chi cái giọng dị-kỳ khó ưa.
Đừng học thói đỏng đưa miệng lưỡi,
Mà có khi vướng lưới quỉ ma;
Khôn-ngoan sao bẵng thiệt-thà,
Cứ lời Mẹ dạy mới là gái ngoan.
Con đã chán các đàng tội phước,
Mừng cho con nay được gặp Thầy;
Ơn Thầy rưới khắp cỏ cây,
Con tua tỉnh mộng kịp ngày qui nguyên.
Phần xác thịt ba giềng làm trọng,
Phần Thiêng Liêng phải gióng cho cân;
Chớ hao Tinh, Khí, hại Thần,
Tinh Thần quí báu phải cần phải chuyên.
Thần, Khí, Tinh, Tiên-Thiên làm gốc,
Tinh, Khí, Thần, là nọc hại người;
Con ôi đừng tưởng trò chơi,
Nếu con sai ngược Đạo Trời dễ đâu.
Đừng nghe kẻ mượn màu Đại-Đạo,
Tiên, Hậu, Thiên, ngược ngạo phỉnh đời;
Nếu con sai lạc tấc hơi,
Luân-hồi phải vướng chạy Trời được sao.
Mẹ thấy trẻ khát khao tìm Đạo,
Mà lại tin chuyện ảo rằng chơn;
Con ôi chớ cậy giọng đờn,
Giọng đờn là giọng hại khờn hồn linh.
Con muốn rõ công trình tập luyện,
Tập luyện rành cửu-chuyển phải thông;
Muốn cho cửu-chuyển được ròng,
Gần Thầy mới rõ huyền-công thể nào.
Con phải biết Đạo cao tối trọng,
Đừng để lòng hờ hững sự Tu;
Chớ tin những lủ quáng mù,
Mượn Thầy giả Đạo quyến rù hư thân.
Nghe tiếng trẻ Mẹ mừng cho trẻ,
Trẻ phải mau bước lẹ đường ngay;
Muôn năm mới gặp hội nầy,
Trễ cơ hội ắt đọa-đày vướng-mang.
Đã gặp Đạo gặp đàng chánh-đáng,
Thì phải lo phải ráng công-trình;
Mẹ khuyên bỏ tánh hớ-hinh,
Mẹ khuyên bỏ tánh chống kình chị em.
Tánh kình chống ráng kềm cho dứt,
Nó làm cho Đạo-Đức phải hư;
Con ôi Mẹ vốn Đại-Từ,
Thương con Mẹ nán giờ dư chỉ bày.
Thấy trẻ dại đọa-đày thân-thể,
Mãi tranh đua theo thế nhán-hào;
Quên nhìn Đất rộng Trời cao,
Đành vùi bụi cỏ để xao Tánh Trời.
Thần, Tiên, Phật, rao lời cạn tiếng,
Khuyên các con bỏ miếng tu chơi;
Tu cho biết Phật, biết Trời,
Tu cho biết Đạo, biết đời, mới tu.
Trẻ mến Đạo, thầy mù khó dắt,
Trẻ ham đời thì mắc tay phàm;
Xanh, vàng, sợi chỉ ai làm,
Con đường nam, bắc, bắc, nam, ai bày.
Muốn tìm Đạo gặp Thầy mới Sống,
Muốn tìm Thầy chớ vọng phàm tâm;
Con ôi Đạo-Lý cao-thâm,
Lầm sai một mảy hại thầm xiết bao.
Lòng thương xót đồng bào chớ nệ,
Một rún nhau của Mẹ mà ra;
Đông tây nam bắc gần xa,
Dẫu cho khác giống cũng là tình thâm.
Kẻ rù quyến gây mầm xâu-xé,
Lập phái phe chia rẽ thịt xương;
Lời ngon ngọt tợ như đường,
Nếu con nhẹ dạ mắc lường uổng-oan.
Con phải đến Đạo-Tràng Chơn-Lý,
Mới không còn có quỉ nơi Tâm;
Đạo-Tràng Thầy lập phải tầm,
Phải tầm cho gặp đặng chăm học hành.
Trời đã phú Tánh lành sáng suốt,
Thì con là con ruột của Trời;
Con Trời đâu có cãi lời,
Con Trời đâu có tiếng đời nhạo khinh.
Khuya những tối tự mình con xét,
Con xét con, con biết lấy con;
Con ôi Tánh Đức cho tròn,
Đừng ham những thói bôn chôn nhộn nhàng.
Chị em cũng một đoàn thua sút,
Giờ rảnh-rang phải học mới nên;
Học thì chí phải cho bền,
Học bền mới có tuổi tên với người.
Khi đi, đứng, khi cười, khi nói,
Lúc nằm, ngồi, lúc hỏi, lúc thưa;
Con ôi lễ-nghĩa chẳng vừa,
Nếu con thưa thớt ai chừa cho con.
Phận nhi nữ phải tròn danh-dự,
Nết đoan trang con giữ lấy con;
Tiếng thơm, tiếng nổi như cồn,
Tiếng nhơ, cũng nặng như hòn Thái-Sơn.
Muốn rõ Đạo chớ sờn công-quả,
Công quả bòn chớ khá từ nan;
Muốn thông công quả rõ-ràng,
Công càng bền vững, quả càng lớn-lao.
Công-đức được dày, cao, chói-rạng,
Công-nghiệp càng rọi bảng Ngọc-Kinh;
Sao cho công vững như thành,
Sao cho quả được trổ nhành, đơm hoa.
Phận nhi-nữ ngọc-ngà thân thể,
Công quả cho rành rẽ đường sai;
Công cao, phước mới được dài,
Công dày, đức mới vững tày núi sông.
Muốn được quả phải trồng nên quả,
Quả muốn trồng giống chạ chớ ương;
Con ôi phận gái đoạn-trường,
Đoạn trường càng phải tìm đường cho nên.
Mẹ đã dạy công bền mới được,
Công dày công được phước mới bền,
Học hành công khó mới nên,
Biến lười phải vướng vào nền tớ-tôi.
Mẹ đã dạy vun-bồi công-quả,
Con phải rành công cả của con;
Con nào công nấy vuông tròn,
Công nào quả nấy chẳng còn đợi chi.
Mẹ cũng biết nữ-nhi phận gái,
Mẹ sẽ trao phần dạy có người;
Con ôi công chớ biến lười,
Con ôi Mẹ đã ráo lời khúc-nôi.
Con phải biết luân-hồi nên sợ,
Luân-hồi làm nên nợ vô-minh;
Muốn cho công được viên thành,
Thì con khá ráng học-hành cho thông.
Kẻ dối-trá cuồng-ngôn khả-ố,
Mà làm tuồng dạy dỗ tròn, vuông;
Các con là gái quê môn,
Các con đâu rõ vuông, tròn là chi.
Các con hãy kỹ suy chính xét,
Thầy có đâu la lết dạo-đường;
Thầy đâu làm mặt trò-phường,
Thầy đâu tán-tận thiên-lương khuấy đời!
Con đã gọi con Trời thế-hạ,
Con phải mau hối-quá tự-tân;
Con sao chẳng chịu nhựt-tân,
Mà con lại muốn tránh luân-xa-hồi?
Bánh luân-xa lăn rồi chẳng đợi,
Nếu vướng vào con mới định sao?
Con ôi thiên-võng nan đào,
Đừng trông Bắc Đẩu Nam Tào cứu nguy.
Muốn cứu nguy chẳng chi lạ nữa,
Con khá lo tự sửa lấy mình;
Sửa mình cho được bất sinh,
Sửa mình cho được tiền trình vẻ-vang.
Nói đến con trăm đàng chua xót,
Mẹ xiết bao lệ giọt đượm tuôn;
Thấy con sa hố lạc truông,
Cũng vì con mãi làm tuồng khéo-khôn.
Càng khôn-khéo càng dồn cát bụi,
Khéo khôn chi với tuổi hồng-trần;
Hồng trần khôn-khéo nhố-nhăng,
Khéo-khôn theo buổi hồng-trần ích chi?
Kìa trước mắt con suy cho kíp,
Cuộc bi, hoan, ly, hiệp, mấy hồi;
Các con chẳng rõ cơ Trời,
Nắng, mưa, lạnh, nóng, mấy thời đó con.
Trời bình tĩnh thoạt còn nổi gió,
Trăng làu làu lại trổ mòi mưa;
Đừng ai khoe sớm, nói trưa,
Năm còn tháng thiếu, ngày thừa, phải sai.
Lời rỉ-rả canh dài Mẹ dạy,
Tiếng nỉ-non phải quấy Mẹ bày;
Con ôi gắng chí theo Thầy!
Ngọc-Kinh mới được có ngày đoàn viên.
Cơ họa-phước nhãn tiền mấy lát,
Cũng đều do khổ lạc chẳng tường;
Khổ kia ai tạo mà vương?
Lạc nầy ai bỏ, ai duồng lại chê!
Phải xét kỹ rõ bề khổ lạc,
Khổ tại đâu mình chác vào mình;
Tại mình nuôi cái vô-minh,
Vô-minh nào phải Trời sinh mà ngờ!
Kìa đuốc-tuệ ánh bờ Chơn-Lý,
Thầy đã khai rọi chỉ đường ngay,
Thuyền nghiêng, sóng ngược, phải quày,
Đừng khoe mạnh-bạo rủi tay lái lèo.
Người trí-thức coi dèo thời-thế,
Chớ hững hờ lầm kế tinh-ranh;
Con ôi phận gái mỏng-manh,
Thương con Mẹ chỉ mối manh con tường.
Đêm đã cạn Mẹ càng than-thở,
Bỏ tánh phàm xem-chị nhắm em;
Đạo dường gió tạnh sóng êm,
Con nào mến Đạo phải tìm đường Chơn.
Biết sao kể nguồn cơn sau trước,
Ham tự do con vượt ra đi;
Tự do nó có ích gì,
Tự do càng lắm càng suy tinh-thần.
Trẻ hối ngộ Mẹ mừng cho trẻ,
Rán lo tu kẻo trễ thời kỳ;
Gặp Thầy con rán qui-y,
Càng cho biết lễ, biết nghi, mới rằng.
Mẹ dạy con chẳng ngừng lời nói,
Con nghe lời đừng gọi phui pha;
Đêm khuya nguyệt xế trăng tà,
Con so bóng nguyệt còn là bấy nhiêu?
Duyên tứ-giả lắm điều dối trá,
Cuộc tuần-hoàn vay trả, chẳng thôi;
Lánh xa cái bánh luân-hồi,
Khá mau tỉnh ngộ vun-bồi Chơn-Linh.
Vững Chơn-Linh phải thinh Tâm-Tánh,
Nhìn Ngọc-Kinh là cảnh quê nhà;
Rảnh rang cái kiếp phù hoa,
Lặng Tâm, êm Tánh, mới là gọi con.
Mẹ  vì con lưỡi mòn đôi đoạn,
Mẹ vì con lời cạn mấy phen;
Công dư kết bạn với sen,
Công dư đâu để làm quen với bèo!
Chừa cái tánh tự-kiêu tự-đắc,
Mới có ngày gần Phật gần Trời;
Trời  tuy lộng-lộng vơi-vơi,
Nhưng Trời ở tại mấy lời Mẹ đây.
Con nghe Mẹ, Mẹ khuây-khỏa dạ,
Mẹ nhìn con, con hả hớn lòng;
Con ôi mau kíp trùng-phùng,
Đến đài Kim-Khuyết hiệp cùng chị em.
Lời tâm-huyết Mẹ đem tường-tận,
Khuyên con thơ yên phận tu hành;
Muốn cho gọi được gái lành,
Thì mau cải dữ, mới rành chơn tu.
Đừng phân-biệt trí, ngu, thêm hại,
Đố ai tường khôn, dại, là chi?
Trăm điều, đều tại Hóa-Nhi,
Đừng đem phàm tánh mà khi mà lầm.
Mẹ căn-dặn tu Tâm cho lắm,
Tu Tâm rồi, Tánh bẩm mới trong;
Tánh Tâm tuy cũng nơi lòng,
Mẹ còn lo ngại con không rõ đàng.
Lòng thương con ngổn-ngang trăm mối,
Muốn cho con tránh khỏi luân-hồi;
Nầy con Tâm, Tánh, bởi Trời,
Nầy con Tâm, Tánh, bởi người phá hư.
Phật thường gọi Chơn-Như Tâm-Phật,
Trời đã cho Minh-Đức Tánh-Trời;
Tánh Tâm trong sạch là Người,
Tánh Tâm xảo trá là đời đó con.
Đã gần trót đêm tròn Mẹ giảng,
Giảng cho con mấy đoạn éo le;
Phải nhìn Đất chở Trời che,
Phải nhìn cho kỹ đặng nghe đặng làm.
Đời gió bụi hiểm nham bớ trẻ,
Có thiện căn mới dễ tránh đời;
Tránh đời còn phải nghe Trời,
Nghe Trời thì phải nghe lời Mẹ khuyên.
Kẻ có phước thiện-duyên mới gặp,
Gặp thiện-duyên ráng tập mà làm;
Làm thì Nhứt-Đức, Nhứt-Tâm,
Nhứt-Tâm Nhứt-Đức Mẹ chăm nom liền.
Thầy đã dạy Mười Khuyên ráng nhớ,
Lại lắm khi nhắc nhở trăm điều;
Khuyên con Tâm-Huệ ráng khêu,
Ráng khêu cho tỏ đặng theo mới mầu.
Bề cư-xử sồng-nâu đạm-bạc,
Chớ kêu-đòi đài-cát trâm-anh;
Trâm-anh để gọi gái lành,
Trâm-anh nào phải sứa-sanh bề ngoài.
Mẹ dạy con chẳng nài lao khổ,
Tánh phàm khuyên ráng bỏ ráng chừa;
Ráng đem lại Tánh Trời xưa,
Ngọc-Kinh sớm bước chờ trưa trễ chầu.
Đuốc Chơn-Lý làu-làu Thầy rọi,
Nơi Trung-Ương đặng gọi các con;
Bòn vàng sông Lệ nên bòn,
Tìm châu tìm ngọc non Côn đến tìm.
Cây mát-mẽ có chim khôn đậu,
Kẻ hiền lành noi dấu Từ-Bi;
Từ-Bi Bác-Ái Thầy ghi,
Từ-Bi Bác-Ái Tam-Kỳ vẻ-vang.
Mẹ đã dựng nền vàng, tảng ngọc,
Con biết lo săn-sóc đêm ngày;
Ân-cần mực-thước đừng sai,
Thì con sẽ được dẫy-đầy Ơn-Trên.
Thăng.

Tam Quy, Ngũ Giới


TAM QUY, NGŨ GIỚI
(Trích Thánh Giáo Sưu Tập)


Cõi thế THÁI hôm mơi phải rã,
Cảnh nhơn tình THƯỢNG hạ mấy ngày;
Muốn đời ÐẠO đức lâu dài,
Trò tua TỔ chức dồi mài công phu.
Ðây đến sự học tu ở thế,
Cựu luật điều chẳng phế, phải hành;
Khi xưa Thánh Chúa giáng sanh,
Cũng khuyên thế tục chí thành noi theo:
TAM QUI, NGŨ GIỚI,
TAM NGUƠN, NGŨ HÀNH,
TAM CANG, NGŨ THƯỜNG.
Tam Bửu dạy trò gieo Thánh Ðức,
Tam Qui xưa điều luật đành rành;
Qui Y Phật dạy chí thành,
Tiên truyền gìn giữ Nguơn Thần chớ xao.
Thánh giáo dạy một màu thờ Chúa,
Dầu phải thân rìu búa chớ từ;
Thành danh trung nghĩa khắc khư,
Vì thương đồng loại cũng như thương mình.
Qui Y Pháp chí linh phép nhiệm,
Gió cùng mây ai kiếm cội nguồn?
Huyền vi Tạo Hóa có luôn,
Phép Trời trò phải lo bươn kẻo chầy.
Tiên Giáo dạy Khí gầy đức tánh,
Rán gìn lòng khí mạch qui căn;
Thánh truyền hiếu thảo khôn ngằn,
Cha sanh mẹ dưỡng mấy trăng nặng nề.
Ơn Phụ Mẫu sánh bề sơn hải,
Công sanh thành nuôi dạy lớn khôn;
Ngày nay xác đã hiệp hồn,
Làm con phải nhớ vong tồn chớ sai.
Qui Y Tăng Phật đài Thánh tự,
Nghĩa linh căn gìn giữ chớ xao;
Tu tâm luyện tánh chí cao,
Xá Lợi ứng hóa người mau gội nhuần.
Tiên chỉ rằng: Nguơn Tinh là gốc,
Giữ kỹ càng mới học phép Tiên;
Thánh xưa còn để rọi truyền,
Phu Phụ hòa hảo nhơn duyên đặng thành.
Ðức Tống Hoằng khó tranh nghĩa nặng,
Sang cả mà lòng thẳng vợ hiền;
Không vì giàu có mà nghiêng,
Trò nay cũng ráng tập chuyên như người.
Luyện đức tánh vẹn mười chẳng sái,
Hễ ở trần nhơn loại phục ngôi;
Sửa đời phong bại tục tồi,
Tân dân minh đức qui hồi Thượng Nguơn.
Rằng đắc quả linh đơn chiếm bảng,
Thoát sanh hồn bỉ ngạn ngao du;
Thầy thương chỉ vẹt ngút mù,
Xưa nay Phật Thánh Tiên tu phép nào?
Trò có thấy Phật cao bất hiếu?
Hay là Tiên danh hiệu bất trung?
Muốn nên phải xét cho cùng,
Nhập thiền suy nghĩ mà dùng phép cao.
Ngũ Hành chuyển ba đào sóng dậy,
Trò phải tường che đậy hằng ngày;
Một đừng sát vật hại ai,
Sát mạng thường mạng xưa nay đã nhiều.
Loài máy cựa ấp yêu sự sống,
Cũng như người chớ vọng sát sanh;
Ngọn rau vô tội chớ hành,
Không ăn bao nở dạ đành chẳng thương!
Nhơn giữ vững bước đường ái chủng,
Vạn sanh linh trọng dụng chẳng chê;
Thương người đau khổ tư bề,
Thương người đói khó thảm thê ngoài đường.
Giữ vẹn vẻ lòng thương vạn loại,
Thì linh Tâm định lại từ bi;
Nghe Thầy giải đến thứ nhì:
Của người đừng có vân vi nơi lòng.
Muốn sanh quấy phải phòng sửa quấy,
Nghĩa sao đành lòng lấy vô can?
Chí công sửa tánh vững vàng,
Thì yên lòng dục tạng Can đã thành.
Thứ ba Lễ dạy rành con hiểu,
Chớ tà dâm phá khiếu quang minh;
Sửa cho ngay thẳng thật tình,
Vợ người cũng tỉ vợ mình chớ sai.
Nếu giữ vẹn Tinh sinh ra Khí,
Nguơn tạng Tì vẹn thủy hỏa hầu;
Thứ tư: Thầy dặn cạn sâu,
Chẳng nên uống rượu chớ âu giận người.
Rượu là nóng đủ mười mạnh bạo,
Uống vô rồi hết thảo hết trung;
Ðệ huynh phải vẹn thủy chung,
Trí thành Phế vẹn bao dung lỗi người,
Thứ năm: Thầy dạy bày đủ lẽ:
Chớ sai lời chẳng vẽ nhiều lòng;
Chí thành tâm thật là xong,
Tín ngay chẳng bợn xử lòng nhiễu nhương.
Tình liên hữu yêu thương một dạ,
Giữ vẹn hòa chớ khá lãng xao;
Hễ gìn chín chắn một màu,
Tạng Thận định đạt chẳng xao lậu mà!
Diệt phàm tánh lánh xa sắc dục,
Bỏ tà dâm un đúc tinh thần;
Lời vàng Thầy đã tỏ phân,
Trò tua nghe thửa khổ thân nâu sòng.
Khuyên trò phải sửa lòng ngay thảo,
Chiếu nương theo Tam Giáo dạy truyền,
Lần đi đạt đến bí truyền,
Hồi quang phản chiếu Ðạo truyền linh tâm.
Hôm sớm lo phù âm mộc dục,
Giữ đừng cho một bợn nhiễm thâm;
Thận thuộc thủy, hỏa thuộc tâm,
Kim mộc chớ trễ lạc lầm mà nguy.
Thầy chỉ sơ lần đi thấu đáo,
Nhơn đạo tròn rõ Ðạo Vô Vi;
Trò ôi rán chí tu trì,
Nhập định Thầy chỉ huyền vi khó nào!
Tại trò chẳng giồi trau phàm tánh,
Tại trò không xa lánh bốn rào;
Trò biết thấp, Thầy truyền cao,
Trò không rõ lý làm sao đặng thành?
Muốn thiên lý chớ tranh nhơn dục,
Muốn cảnh nhàn cõi tục phân ranh;
Chờ khi Tam Giáo luật hành,
Phải lo bổn phận tu hành nghe con!

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2010

Đại nguyện của Thầy


ĐẠI NGUYỆN CỦA THẦY
(Trích Dặm Dài Gánh Đạo của Đạo Trưởng Chí Tín)


Dân tộc Việt Nam nhỏ bé và hiền hòa này nói riêng và nhân loại trên địa cầu 68 nói chung rất diễm phúc được chính Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Chúa Tể càn khôn vũ trụ hạ mình xuống trần gian ô trược lập Đạo vào thời kỳ hạ nguơn mạt kiếp này để cứu rỗi, độ tận toàn linh thoát vòng luân hồi đọa lạc khổ hải triền miên. Đó là một điều hy hữu chưa từng có trên thế giới này kể từ khi tạo thiên lập địa. Chính mình Đức Chí Tôn đích thân mở Đạo chớ không giao cho các thiên sứ như trong Nhứt và Nhị Kỳ Phổ Độ.
Điều hy hữu thứ hai là Thầy không giáng phàm bằng xác thân hữu hình như các bậc giáo chủ trước kia bị hạn chế bởi sự sống hữu hạn của nhục thể do tứ đại giả hiệp và bị phân biệt bởi sắc màu dân tộc, mà bằng một phương pháp tân kỳ là dùng huyền linh diệu điển bút cơ để khai mối đạo Trời.
Điều hy hữu thứ ba là Đức Chí Tôn mở cuộc đại ân xá cho nhơn loại, cho tất cả những ai biết giác ngộ cải ác tùng thiện lo tu tâm dưỡng tánh, bồi công lập đức trong vòng chánh tâm, chánh tín, chánh đạo, thì được đắc quả ngay kiếp hiện tiền. 
Điều hy hữu thứ tư là chính đích thân Đức Thượng Đế trực tiếp dạy dỗ con người như một người cha, người thầy của thế gian với cách xưng hô: “Thầy” và “các con” rất dịu dàng, ngọt ngào, thân thiết. Đức Chí Tôn Đại Từ Phụ còn hứa tạo lập một đời thánh đức Thuấn Nghiêu cho nhơn loại được hưởng sau Hội Long Hoa, với những người dân hiền lương thuần hậu trong một xã hội an lành, nhà nhà không cần đóng cửa, thậm chí của rơi ngoài đường cũng không ai lượm vì không còn kẻ gian tham; thiên hạ xem nhau như anh em một nhà thương yêu đùm bọc giúp đỡ nhau trong tình chân thật thuận thảo.
Đức Chí Tôn mặc dầu là Chúa Tể càn khôn vạn loại, nhưng Ngài không xưng danh lớn lao mà chỉ tá danh tức tạm mượn hai chữ Cao Đài với ý nghĩa là cái đài cao, qua danh xưng “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” để lập một nền tôn giáo có tên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay gọi tắt là đạo Cao Đài (vì Thầy là Đức Giáo chủ duy nhứt của đạo Cao Đài) với tôn chỉ “Tam Giáo Quy Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt” nhắm vào việc phổ độ, cứu vớt toàn thể nhân loại chớ không riêng cho một dân tộc nào. Ngài đã chọn đất nước Việt Nam làm nơi khai mối Đạo và chọn dân tộc Việt để ban trao sứ mạng triển khai hoằng hóa đến khắp cùng nhân loại. Lời đoan thệ với Tam Giáo để lập Đạo mầu của Thầy. Chúng ta hãy lắng lòng trần, giữ tâm thanh tịnh lặng lẽ để đọc lại lời đại nguyện của Đức Chí Tôn:
“Muôn kiếp các con chịu lạc đường,
Thấy vầy Thầy luống động lòng thương;
Nên đoan thệ với hàng Tiên Phật,
Lập Đạo không thành chịu tội ương.
Hỡi các con!
Cuối hạ nguơn máy Tạo vần xoay, nạn tiêu diệt, sự họa tai không tránh khỏi.
Cơ dĩ định tang thương biến cải. Ôi là đời, sao quá dại chẳng thức lý tầm nguyên?
Sao mà đời không chịu gia tâm suy nghĩ để đặng tầm Thiên cơ, cầu diệu lý mà luyện kỷ, hầu quay trở lại chỗ nguyên thủy cựu ngôi?
Để làm chi nay mai mang lấy nạn khổ mãi luân hồi, Thầy dòm thấy luống chua xót, đứng ngồi không yên dạ.
 
Nên hội Tam Giáo Công Đồng, Thầy lập tờ đoan thệ, đem đạo mầu phổ hóa, độ tất cả đám quần sanh. Nếu các con chẳng chịu tu hành, không bỏ dữ làm lành, Đạo không thành, Thầy nguyện không trở về ngôi vị cũ.”
Chúng ta không thể không xúc động tâm tư trước lời đoan thệ thắm thiết của Đức Đại Từ Phụ, vì Ngài là một Đấng quyền uy tối cao tối thượng mà lại hạ mình trước chư Phật Tiên dưới quyền Thầy cai quản để đoan thệ độ tất cả đám quần sanh. Nếu con người không chịu tu hành và Đạo không thành, “Thầy nguyện không trở về ngôi vị cũ”. Lúc mới khai Đạo, Thầy cũng đã than thở (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Quyển 1, đàn ngày 27-5-1927):
 “Mỗi phen Thầy đau thảm khóc lóc vì các con, phải lén hạ trần bỏ ngôi Chí Tôn xuống lập Đạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẽ, xua đuổi bắt buộc đến đỗi phải chịu cho các con giết chết. Ôi thảm thay, thảm thay! (...)
Mỗi phen Thầy đến lập Đạo thì phải cam đoan và lãnh các con chẳng khác nào kẻ nghèo lãnh nợ. Các con làm tội lỗi bao nhiêu, oan nghiệt bấy nhiêu, Thầy đều lãnh hết. Các con đã đặng thong dong rỗi rảnh chẳng lo tu đức mà sửa mình, lại còn cả gan trước mặt Thần Thánh Tiên Phật gây thêm tội lỗi nữa, thật là đáng giận.”

Và 10 năm sau Khai Minh Đại Đạo, trong Đại Thừa Chơn Giáo Thầy lại dạy rằng: “Thầy thương con nên Thầy phải từ bi, chớ quyền thưởng phạt, Thầy sợ gì không trừng trị. Sao các con phũ phàng không biết nghĩ, lại đem Thầy nạp cho lũ quỷ mà chịu thịt đổ máu rơi? Nhưng quá lòng từ bi, thương cả mọi nơi, nên phải chịu lăn lóc với đời mà dựng gầy đạo đức.”
Thầy là Đức Chí Tôn Thượng Đế còn phải đoan thệ với Tam Giáo Tòa huống chi chúng ta là con cái, cũng là môn sanh phải có trách nhiệm đối với Đạo, nên chi Thầy có dạy: “Các con phải hiểu rằng, mỗi đứa có trách nhiệm lớn lao về Đạo. Trước khi lãnh mạng Tam Giáo Tòa xuống chịu mình với chúng sanh lúc Tam Kỳ Phổ Độ này, đều có cam đoan hứa làm tròn phận sự. Thầy là Đức Chí Tôn khai sáng nền Đạo, cũng buộc mình cam đoan mà lãnh các con, thế thì mỗi đứa đều mang nặng nơi mình một phần trách cứ chẳng nhỏ. Nếu Đạo chẳng thành thì phần phạt thiêng liêng, vì cân tội phước mà định đoạt.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển)
Hơn nữa, trách nhiệm con người đến thế gian là phải hoàn thành sứ mạng vi nhân, làm người cho đáng con người đứng vào hàng tam tài (Thiên Địa Nhơn).
Xin hãy bình tâm lắng nghe huấn từ của Đức Chí Tôn Thượng Đế (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Quyển 1, đàn ngày 10-01-1927):
“Mỗi bực phẩm đều đặng một vai tuồng của đấng cầm quyền thế giới ban cho, dầu thanh cao dầu hèn hạ, cũng phải gắng làm cho rồi trách nhiệm, hầu buổi chung cuộc hồn lìa cõi trần đặng đến nơi khởi hành mà phục hồi công cán, ai giữ trọn bực phẩm thì đặng Tòa Nghiệt Cảnh tương công chiết tội để vào địa vị cao hơn chốn địa cầu 68 này, ai chẳng vẹn trách nhiệm nhơn sanh phải bị đọa vào U Minh Địa để trả cho xong tội tình căn quả cho đến lúc trở về nẻo chánh đường ngay mà phục hồi ngôi cũ. Bằng chẳng biết sửa mình thì luật Thiên điều chồng chất, khổ A Tỳ phải vướng muôn muôn đời đời mà đền tội ác. Bậc nhơn sanh vì đó mà phải chịu thiên niên chìm đắm vào số luân hồi, vay trả, trả vay, căn quả chẳng bao giờ tiêu đặng.”
Trước đại nguyện độ rỗi nhơn sanh mà Đức Thượng Đế đã đoan thệ với Phật Tiên, Tam Giáo Tòa, phận làm con hiếu thảo phải biết thương Thầy, cố gắng làm theo lời khuyến dạy của Thầy mà lo tu thân tâm, hành chánh đạo, bồi công lập quả cho dày để hoàn thành sứ mạng đời đạo song toàn, mới mong phục hồi ngôi xưa vị cũ.
Chúng ta đừng ngại đụng chạm với mọi khảo thí gian lao thử thách từ nội tâm đến ngoại cảnh, vì đó là Thiên ý để trui rèn un đúc con người trở nên hàng chí thiện chí mỹ mới xứng đáng địa vị Tiên Phật, vì muốn thành Tiên Phật, mọi người tu hành bắt buộc phải chun qua cửa ngõ này. Lời xưa có nói: “Vô ma khảo bất thành Đại Đạo”. Thầy đã cho phép quỷ vương bày trò khảo thí môn sanh Cao Đài, nên ban cho nó đủ quyền hành. Thầy có nói (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Quyển 1, đàn ngày rằm tháng 11 Bính Dần, 19-12-1926): “Cái quyền hành lớn lao ấy do Thầy ban cho nó, nên đặng quyền cám dỗ các con, xúi biểu các con, giành giựt các con mà làm tay chơn bộ hạ trong vòng tôi tớ nó.(...) Trong tam thiên thế giới còn có quỷ mị chuyển kiếp ở lộn cùng các con thay huống lựa là thất thập nhị địa này, sao không có cho đặng? Hại thay, lũ quỷ lại là phần nhiều, nó bày bố ra mỗi nơi một giả cuộc mà dỗ dành các con. Vì vậy Thầy đã nói tiên tri rằng: Thầy thả một lũ hổ lang ở lộn cùng các con, lại hằng ngày xúi biểu nó cắn xé các con, song Thầy cho các con mặc một bộ đồ thiết giáp chúng nó chẳng hề thấy đặng, là đạo đức của các con. Ấy vậy đạo đức các con là phương pháp khử trừ quỷ mị, lại cũng là phương dìu dắt các con trở lại cùng Thầy.”
Đời thường hay nói “Đức trọng quỷ thần kinh.” Thầy lại an ủi chúng ta: “Các con chớ buồn vì Thiên cơ phải vậy, thi nhiều đậu ít là lẽ hằng.”Chúng ta đừng vì bị khảo đảo khổ sở mà than trách Thầy không thương, Thiên Đình đã liệu sức chịu đựng của mỗi người, trừ phi có ai gan lì thệ nguyện muốn sớm dứt khoát nợ trần. Thầy lý giải điều này cho ta am tường: “Thương thương, ghét ghét ai thấu đáo vậy ôi!(...) Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ, cũng chẳng vì thương mà không sai quỷ dỗ dành.” 
Làm sao không xúc động, khi chúng ta nghe tiếng kêu gọi thống thiết của Đại Từ Phụ:
“Cả tiếng kêu, bớ các con ôi!
Thầy là Chúa Tể bỏ vị ngôi,
Xuống phàm cứu thế.
Công cực khổ Thầy đâu có nệ, m
iễn sao con biết thấu cuộc giả trò đời là tệ,
Nghe lời Thầy tu cho đoạt huệ mà siêu xuất cõi hư linh.
Chốn thế gian là trọng trược vật chất hữu hình không bền vững, nó tan nát thình lình như đám mây đương nổi.
Cái xác thịt tạm thời trong một lúc thì cũng tiêu tan như áo ngoài con cổi, cổi cho rồi thiệt nông nỗi vàn muôn.
Thầy dạy con, con giác ngộ tầm tu, tu luyện đạo. Thầy mới thể độ ra khỏi chốn âm phù về nơi cực lạc.”

Thầy dạy chúng ta, khi đã giác ngộ rồi thì phải tầm tu, tham cầu đạo pháp để luyện đạo thì Thầy mới giải thoát chúng ta khỏi luân hồi đọa lạc đặng. Vì Thầy đã nói: dầu một bực Đại La Thiên Đế giáng trần mà không tu luyện cũng không được phục hồi cựu vị. 
Ấy vậy việc luyện đạo là điều thiết yếu cho sự giải thoát.
Sau khi nghe được đại nguyện và lời đoan thệ của Đức Chí Tôn Thượng Đế trước Tam Giáo Tòa, là con cái mến yêu của Đại Từ Phụ, chúng ta nỡ lòng nào để Thầy phải chịu tai ương chỉ vì chúng ta không nghe lời khuyên dạy của Thầy, lo tu thân luyện kỷ. Hơn nữa, cũng vì lợi ích giải thoát cho chính bản thân, chúng ta đồng hứa nguyện với Thầy, dốc lòng quyết chí lo tu hành lập công bồi đức, dầu gặp mọi cảnh khó khăn khảo thí cho đến ngày viên mãn để phản bổn huờn nguyên, trở về hiệp nhứt cùng Đại Từ Phụ.
Chúng ta hãy nghe những lời dịu dàng êm ái của Thầy kêu gọi con thơ tìm đến với Thầy: “Thầy đã đưa tay đến với các con, các con phải đưa tay tới với Thầy. Thầy sẽ dìu dắt các con đến gần Thầy và trở về cùng Thầy. Thầy cùng các con là một, sống trong lẽ thiên nhiên, trong mùa Xuân vĩnh cửu.”
Muốn được ân huệ Thầy ban bố phải làm sao?
Nhơn dịp ngày Khánh Đản của Đại Từ Phụ nhằm tiết xuân khai thới, điển lành Thầy chan rưới bủa khắp trần gian, chúng ta đọc lại huấn từ của Thầy để thực hành, thì chắc chắn chúng ta sẽ nhận được ân phước của Thầy. Thầy dạy: 

Thầy những mong ở một cõi trong sạch nhứt nơi trần gian, Thầy chứng vào cõi đó,Thầy ngự vào đó để cứu rỗi con cái của Thầy trong kỳ mạt kiếp. Các con ôi! cái cõi tịnh khiết đó ở đâu hỡi các con? Các con thử tìm để bạch lên Thầy nghe thử nào?”
Cái cõi tịnh khiết đó ở đâu? Có phải chăng nơi nê huờn cung tại đỉnh đầu, nơi cao thượng nhất để cho Đấng Cao Đài ngự với điều kiện là chúng ta phải giữ cho nơi ấy trống không, trong sáng và khiết tịnh, không chứa niệm lự để bảy tình sáu dục không làm xáo trộn tâm trung của chúng ta. Đức Đông Phương Lão Tổ đã chỉ rõ:
“Thử hỏi Cao Đài ở chốn nao?
Người tu trở lại, trở về đâu?
Phải chăng tìm đến Cao Đài Thượng?
Đài Thượng vô vi tại đỉnh đầu.”
Dục vọng không còn, lòng người sẽ như đại dương yên lặng, dứt cơn sóng gió. Muốn giữ cho nê huờn cung được khiết tịnh để
Thầy đến ngự ban ơn cho chúng ta, chúng ta phải tẩy sạch bằng sự yên lặng hư vô tuyệt đối, vì Thầy đã dạy rằng chỉ có sự yên lặng đó mới thần giao cách cảm được với Thầy mà nhận được ân huệ trong cảnh Thiên nhân hiệp nhứt giao cảm:
 
“Con ôi! Sự yên lặng để thần giao cách cảm, để các con tìm thấy con trong Thầy và Thầy hằng ngự trị với đức háo sinh trong vạn vật.”
“Yên lặng tức là quán triệt tất cả những cái gì mà trần gian không nói được, không sờ mó được, không nghe thấy được.”
“Yên lặng để tìm thấy cương vị của các con trong sứ mạng to tát giữa thời Phổ Độ Kỳ Tam.”

“Giờ giao điểm của tâm linh và vũ trụ cũng là giờ giao điểm của Đức Nguyên và vạn sinh.”
Trong lúc này cần hơn lúc nào hết, cần ở tiềm lực quang năng của mỗi người có sứ mạng trong Tam Kỳ Phổ Độ, cần đến tinh thần vạn năng của các sứ đồ trung kiên trong Đại Đạo.
 “Yên lặng để điều ngự khỏi truân chuyên. Yên lặng để chuyển phong ba trở thành bình địa. Sự yên lặng rất cần dùng ấy, con phải biết đến giá trị của phút giây yên lặng đó!”
Biến cố vô cùng khủng khiếp của trận động đất và sóng thần xảy ra vừa qua tại các nước vùng Nam Á, Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan, Nam Dương và còn sắp diễn ra không biết chừng nào và nơi đâu khiến chúng ta là người tu hành có lòng bác ái từ bi nhưng tài lực hạn chế, chúng ta hãy nghĩ tới sự áp dụng lời dạy của Đức Từ Phụ về sự yên lặng, về sức mạnh vạn năng của nó điều ngự khỏi truân chuyên, để chuyển phong ba trở thành bình địa, để chuyển họa thành phúc, bằng cách giữ sự yên lặng hoàn toàn với tâm thanh tịnh, chúng ta hiệp thần lực của tất cả thành một khối thần lực vĩ đại, khổng lồ, có sức vạn năng chuyển hung thành kiết, đẩy lui âm lực, dụng điển linh để đem lại sự an lành phần nào cho thế giới nhơn loại.
Đây là một sự đánh thức lương tâm của nhơn loại để biết xót xa và chứng kiến thảm hoạ lớn lao, thiên tai không một ai tránh khỏi, giàu như nghèo, nước lớn như nước nhỏ trước sự chuyển động của thời hạ nguơn mạt kiếp để Đức Thượng Đế tái lập đời thượng nguơn Thánh đức cho người hiền lương được hưởng an bình hạnh phúc như Ngài đã hứa. 
Trước sự hy sinh vô cùng lớn lao, lìa bỏ ngai vàng điện ngọc Linh Tiêu Điện của Đại Từ Phụ để giáng trần vào nơi ô trược nặng nề để lập Đạo hầu cứu rỗi nhơn loại thoát kiếp trần ai đọa lạc luân hồi, đến đỗi phải chịu cam đoan thệ nguyện cùng chư Phật Tiên bảo lãnh nhơn loại, nếu Đạo không thành, thì Thầy nhứt định không trở về ngôi vị tối cao của Chí Tôn Thượng Đế.
Chúng ta là môn sanh, là con cái mến yêu của Đại Từ Phụ, chúng ta phải tự xét và tự hỏi phải làm gì? Không gì hơn là sự nhứt tâm cung kỉnh vâng lời triệt để thực hành lời dạy của Thầy: 
“Thầy đã từng dạy các con. Thầy sanh trưởng bảo tồn các con. Thầy đến nước Việt Nam này mở Đạo dạy dỗ các con. Thầy không đòi hỏi các con phải làm những gì đem lại riêng tư cho Thầy. Thầy luôn luôn dạy các con phải thực hành đạo lý cho các con cái của Thầy, nghĩa là phải giác ngộ cho nhau, thương yêu, dạy dỗ, đùm bọc cho nhau, bảo tồn cho nhau, để cùng nhau được sống trong cảnh thái hòa, cùng hưởng hạnh phúc với nhau mãi mãi, chớ không được thù hằn, ganh tỵ, ghen ghét hại nhau, rồi tự diệt nhau, vì các con là một trong vạn vật chúng sanh, mà vạn vật chúng sanh là bản thể của Đạo, mà bản thể của Đạo tức là bản thể của Thầy. Các con có thương nhau, tức là các con đã thương Thầy. Nếu các con ghét nhau, chính là các con ghét Thầy, mà Thầy có bao giờ làm gì đến nỗi để các con ghét Thầy, có phải vậy không các con? Thầy đã nói:
Thương nhau khác thể thương Thầy,
Ghét nhau khác thể ghét Thầy sao nên!”

THI
“Thương con dạy dỗ đã bao điều,
Thương mến anh em ráng dắt dìu;
Trên vạn nẻo đời còn khốn khổ,
Đó là Thiên sứ trẻ cưng yêu.”
Chúng con thành kỉnh cầu nguyện toàn nhân loại chúng sanh được mở tâm thiên địa để rộng tình người như tình trời đất.
Đạo Trưởng Chí Tín.

Kinh Ngọc Lộ Kim Bàn


KINH NGỌC LỘ KIM BÀN

Quý anh chị em vào đường link sau để cùng đọc quyển kinh "Ngọc Lộ Kim Bàn":


Chánh Tuân.