Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012

Cẩn ngôn

 

CẨN NGÔN

Ngày xưa ở một vùng nọ, có một người thiếu phụ trẻ khá xinh đẹp. Chồng cô đi lính xa nhà, người thiếu phụ ấy phải ở nhà với mẹ chồng. Cô chăm sóc mẹ chồng và mọi chuyện trong nhà rất chu đáo. Mọi người trong vùng ai cũng thầm khen cô là người nết na… Trong vùng không ít đàn ông yêu cô vì cô còn trẻ và xinh đẹp.
Trong số đó có tên yêu cô đến điên cuồng. Nhiều lần tán tỉnh cô nhưng đều bị cô từ chối. Hắn từ yêu hóa ra căm hận. Hắn đi rêu rao khắp làng rằng cô đã không giữ tròn trinh tiết của người vợ, là một người phụ nữ thiếu đức hạnh. Tin đồn cứ truyền khắp nơi trong vùng, mọi người nhìn cô với một ánh mắt khác đi. Rồi tin đồn cũng tới tai bà mẹ chồng của cô. Bà nghi ngờ và đối xử khác với cô. Không thể nào chịu nổi những lời dèm pha của mọi người, lại bị người thân xa cách, cô buồn lắm.
Một lần quá đỗi tuyệt vọng cô đã tìm đến cái chết. Cái chết của cô làm cho tên đã tung những tin đồn không hay về cô vô cùng ân hận và hối lỗi. Hắn cảm thấy bị lương tâm dằn vặt. Hắn tìm đến cụ già nhất làng và là người hiểu biết nhất để kể hết mọi chuyện và xin ông một lời khuyên.
Cụ già nghe xong mọi chuyện không nói gì dẫn hắn lên trên ngọn đồi của làng. Cụ xé chiếc gối và thả xuống. Những bông gòn theo gió bay đi mọi hướng. Cụ già bảo hắn đi nhặt lại những bông gòn đó rồi dồn lại vào gối. Hắn ngạc nhiên lắm, vì làm sao có thể nhặt được đấy đủ. Cụ già nhìn hắn rồi nghiêm nghị nói:
Những lời do con người nói ra cũng như những bông gòn kia vậy, không thể nào lấy lại được. Khi lời đã nói ra thì làm sao có thể rút lại được.
Linh Chi

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

Vô thường


 

VÔ THƯỜNG

Cuộc đời như giấc chiêm bao,
Có chăng cũng chỉ tan vào hư không.
Biết thế cũng đừng nên trông,
Mà ta phải cố gắng công tu hành.
Đời người ngắn ngủi chớ mê say,
Ráng lo niệm Phật gấp đêm ngày.

Vô thường tấn tốc nào ai biết,
Chớ nên lần lựa hẹn nay mai.
Chớ để tuổi già mới niệm Phật,
Mồ hoang lắm kẻ tuổi còn xanh.
Nguồn: FB Vô Minh

Thứ Năm, 20 tháng 9, 2012

Điều người ăn chay cần biết




ĐIỀU NGƯỜI ĂN CHAY CẦN BIẾT!
Dược sĩ  QUÁCH HIỆP HƯNG
                     
                          
Ăn chay là một trong những phương cách để thanh lọc cơ thể cũng như tâm hồn. Ăn chay là một biện pháp để rèn luyện đức hạnh, tập khép mình trong khuôn khổ, hãm mình để biết cảm thông chia sẻ cùng vạn linh sanh chúng.
Tinh thần ý nghĩa là như thế, nhưng ngày nay việc ăn chay đã bị biến tướng quá nhiều! Cùng với tiến bộ của khoa học công nghệ chế biến thực phẩm theo cùng phong trào ăn kiêng của dân chúng những nước đã phát triển xuất hiện ngày càng nhiều.
Nơi đây chúng ta phân biệt hai trường hợp: “đồ chay giả mặn” “đồ mặn giả chay”.
Với “đồ chay giả mặn” là những món chay mà nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật được bàn tay khéo léo của đầu bếp tạo nên với hình thức trông giống như đồ mặn. Thí dụ: thịt heo quay (với bột năng, tàu hủ ky hay bánh mì chiên, ngũ vị hương), trứng cút (với agar và đậu xanh) v.v…
Còn với các loại “đồ chay Đài Loan” hiện nay mà thực chất phần lớn là “đồ mặn giả chay”. Có khá nhiều món khi được đem xét nghiệm, người ta thấy có sự hiện diện của các ADN động vật!!! (Theo báo cáo từ Đài Loan vào ngày 10 tháng 6 năm 2004 ở một số trang web Phật giáo trên internet). Người sản xuất phải làm như thế để có mùi và vị của món mặn hầu thu hút thực khách có nhu cầu “ăn kiêng” của phương Tây (giảm mỡ và protid động vật) chứ không phải là ăn chay theo quan niệm truyền thống của các tôn giáo phương Đông (tránh sát sanh). Các món như “hem”, “mực”, “thịt bò viên” v.v… là những thí dụ điển hình.
Người Âu Mỹ phân biệt hai mức độ ăn kiêng: những người ở cấp thứ nhứt được gọi là “Vegetarian” tuy ăn rau củ nhiều nhưng vẫn có thể dùng trứng hay dùng nước súp động vật đã loại bớt mỡ. Còn ở cấp thứ hai được gọi là “Vegan”, những người này ăn uống đúng theo chế độ ăn chay truyền thống của Á Đông. Bởi thế khi vào một nhà hàng ở Âu Mỹ gọi món chay, người quản lý nhà hàng sẽ hỏi thực khách ăn chay theo Á Đông hay ăn kiêng để phục vụ đúng theo sở thích của khách hàng. Chúng tôi có một người chị là chủ một nhà hàng ở Ontario – Canada, chị kể rằng khi khách hàng nói ăn chay theo nhà Phật thì phải dọn thức ăn chỉ toàn rau củ nhưng nếu khách nói ăn kiêng thì tô nước súp chay phải cho thêm một giá nước súp xương heo hay xương bò tùy theo món mì hay phở để có vị và mùi như đồ mặn!
Vì thế tại những nhà máy sản xuất thực phẩm ăn kiêng thuộc khu chế xuất Bình Dương, người ta có thể thấy nguyên liệu là đầu tôm được mua lại từ nhà máy chế biến tôm xuất khẩu để xay lấy nước cốt rồi hoà vào khối bột nhão với một ít màu cam trước khi qua máy tạo hình để làm ra những con tôm. Tại đây cũng có những container nguyên liệu nhập khẩu với bao bì ghi rõ: “xác thịt bò ép khô”, “bột cá”, “bột thịt”!
Việc sản xuất các loại thực phẩm này đã đáp ứng được nhu cầu của một số đông người ăn kiêng ở nhiều nước. Tuy nhiên do cách dịch sang tiếng Việt của một số nhà nhập khẩu người Việt đã gây những hiểu lầm tai hại với những người ăn chay thật sự! Thay vì phải dịch là “thực phẩm ăn kiêng” người ta lại dịch thành “thực phẩm chay” cho nên đã gây sự lầm tưởng cho nhiều người!
Thấy thị trường đồ chay có cơ hội phát triển nên hiện nay đã có nhiều cơ sở sản xuất nhỏ cũng bung ra sản xuất chế biến. Để có thể tạo món chay có hình dáng và hương vị giống như món mặn, người ta phải sử dụng nhiều loại hóa chất tạo mùi, tạo màu v.v… Sau khi dùng các thực phẩm loại này, chúng ta rất dễ dàng cảm nhận được mùi hương vẫn còn tồn tại trong nước tiểu trong khi nếu cũng dùng món đó là thủy hải sản thật sự thì lại ít cảm nhận mùi trong nước tiểu. Đây là tín hiệu báo động cho biết người ta đã phải dùng một tỷ lệ khá cao hóa chất để tạo nên mùi vị!
Với ý nghĩa ăn chay để thanh lọc cơ thể thì trong trường hợp với những món chay có thực phẩm Đài Loan, ngày nay với một trong những thương hiệu nổi tiếng như thực phẩm Âu Lạc, đã đáp ứng nhu cầu ăn kiêng nhưng lại không đáp ứng được yêu cầu của người ăn chay. Trái lại nếu thường xuyên ăn các món này, với người còn ăn chay kỳ, trong một thời gian dài và ăn liên tục trong cả tháng như tháng giêng, tháng bảy hay tháng mười v.v… thì không những đã không thanh lọc được cơ thể mà trái lại đang tự cung cấp những tác nhân xấu, đầu độc chính mình và sẽ gây ra một số bệnh về sau!
Còn đối với người tu tịnh cao cấp, trong khi ăn chay trường đã phải cử “ngũ vị tân” mà lại “bị” đưa các protein động vật cũng như hóa chất độc hại vào cơ thể thì thật là đáng buồn!
Người nấu đồ chay mà lại dùng nguyên liệu thực phẩm có nguồn gốc từ động vật thì không những đã không trợ duyên cho người tu nên không được công đức mà trái lại đang vô tình làm giảm phần phước đức của mình!!! Vì thế đây là vấn đề rất nghiêm trọng cho các đầu bếp cũng như các quán tiệm chay giữa “phước” và “tội” !!!
Người còn ăn chay kỳ với thói quen thích dùng các món chay Âu Lạc sẽ rất chậm tiến trên con đường tiến hoá tâm linh vì tư tưởng hưởng thụ, khoái khẩu vẫn đeo mang nên nghiệp lực cứ chồng chất thêm cao! Và tương lai ngày sau, sức khỏe chắc chắn cũng sẽ có nhiều vấn đề!!!
Người đã tiến lên ăn chay trường, cho dầu đã bước vào đường Thiên Đạo hay chưa, cũng không nên dùng những món chay giả mặn có hình thức y như động vật. Thí dụ: trong món gỏi có móng chân gà v.v… trong món lẩu có tôm, mực, v.v… vì “hình thức sẽ gây ý thức”. Ăn chay mà mấy món mặn cứ còn lởn vởn trong đầu thì khó tu tiến!
Người tín hữu Cao Đài, mức chuẩn của trai kỳ là dùng 10 ngày chay mỗi tháng, trong những ngày này phải ý thức rõ như những vị đã bước lên hàng trường trai tịnh luyện, rằng không được ăn những thực phẩm chay Đài Loan vì thực chất hầu như chỉ là đồ mặn.
Trong mỗi gia đình và ở mỗi Thánh thất, Thánh tịnh vai trò của người đầu bếp phụ trách bếp ăn trở nên hết sức quan trọng nhứt là phái nữ chiếm đa số. Những kiến thức về khoa học dinh dưỡng và kỷ thuật chế biến khéo léo cùng với những hiểu biết về nguồn gốc của các loại thực phẩm sẽ góp phần quan trọng giúp cho người thân trong nhà mình và đạo hữu có được những buổi ăn chay ngon miệng đúng ý nghĩa chứ không vô tình rơi vào hoàn cảnh bị ăn phải “đồ mặn giả chay”!
Hiện nay, nắm bắt được nhu cầu của những người ăn chay chân chính theo quan niệm Đông phương, một số nhà hàng chay VEGAN quảng cáo công khai thực đơn chay thuần thực vật để phục vụ thực khách như thế cũng đáp ứng được nhu cầu “tu tiến” chánh đáng của một bộ phận khách hàng.
Những quán chay, nhà hàng có đề chữ Vegetarian, được hiểu chính xác chỉ là nơi bán đồ ăn kiêng mà thôi.

Thứ Tư, 12 tháng 9, 2012

Tên ăn trộm



TÊN ĂN TRỘM

Có tiếng ồn ào ở phía trên rẫy, nhà sư vừa bước ra khỏi thiền thất thì chú Liễu Minh cũng vừa đi tới.
- Bạch thầy! Rẫy mình vừa bị mất trộm, sáng nay lên nhổ sắn chúng con mới biết.
- Thế à!
- Dạ mất đâu khoảng chừng vài vồng.
Nhà sư dừng lại, chậm rãi nói:
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta!
Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng? Ta có móng khởi một tiếc rẻ nào khi mất đi một ít vật chất, của cải? Ta có thể san sẻ cho người bằng cách nhịn ăn một vài bữa! Và, sau hết, trong ta có dậy mối bất bình, phiền não chăng? Chúng ta là người học hạnh giải thoát, có gì phải giải quyết ngoài những vấn đề tương tự?
Liễu Minh sững lại, nhà sư mỉm cười nắm tay chú theo lối mòn lên rẫy.
Liễu Minh nói:
- Bạch thầy! Hồi nãy, con với chú Bất Đạt cãi nhau. Con thì nói tha. Chú Bất Đạt lại nói bắt. Con và chú ấy thường có quan niệm bất đồng.
Bất Đạt và Bất Ác từ trong những lùm sắn bước ra, mỗi người tay xách mấy chùm sắn vụn. Thấy nhà sư, Bất Đạt cất giọng oang oang:
- Bạch thầy! Cái lũ ăn trộm này, gặp con, chúng sẽ biết tay!
Liễu Minh cãi lại:
- Biết tay như thế nào? Chú bắt chăng? Ý thầy là thầy sẽ tha cho phù hợp tâm từ!
Nhà sư nói:
- Không, Liễu Minh con! Thầy không tha! Vì tâm từ nên thầy không tha!

Bất Đạt reo lên:
- Đó, chú Liễu Minh thấy chưa? Vì tâm từ nên thầy không tha, thầy sẽ bắt.
Nhà sư cười:
- Không, Bất Đạt con! Thầy không bắt! Vì tâm từ nên thầy sẽ không bắt.
Cả ba chú đều ngơ ngác:
- Bạch thầy thế thì...
Thấy vầng trán và cặp chân mày của Liễu Minh cau lại, nhà sư dịu dàng nói:
- Liễu Minh! Con hiểu về tâm từ như thế nào mà bảo nên tha?
- Vì tâm từ là thương người, yêu chúng sanh, mong chúng sanh thảy đều yên vui, hạnh phúc!
- Như vậy, vì tình thương mù quáng, con sẽ dung dưỡng kẻ trộm trên thế gian!
Bất Đạt góp lời:
- Vì không muốn dung dưỡng kẻ trộm trên thế gian, cho nên, con sẽ bắt mới đúng nghĩa tâm từ!
- Như vậy, vì tâm từ nóng vội con sẽ nuôi dưỡng hận thù giữa cuộc đời!
Im lặng một lúc, nhà sư tiếp:
- Các con ạ! Tâm từ là vậy mà không phải vậy. Thật ra, trong các con, chưa ai hiểu tâm từ là gì!
Biết là cả hai chú đều rơi vào hoài nghi to lớn, nhưng nhà sư vẫn chưa trả lời vội, người dẫn cả ba chú đến một lùm cây rậm, chỉ vào đám cỏ rạp.
- Đêm kia, thầy thấy cậu ăn trộm rình núp ở đây. Người bạn ăn đêm kiên nhẫn đợi thầy tắt đèn và đi nghỉ, nên thầy đã tắt đèn và đi nghỉ!
Không cưỡng được ý mình, Liễu Minh buột miệng:
- Thế là thầy đã tha!
- Ừ! Thầy đã tha nhưng cái tha của thầy khác với cái tha của con. Thầy tha mà không dung dưỡng kẻ trộm trên thế gian. Rồi con sẽ hiểu điều ấy.
Im lặng một lúc, chú Liễu Minh lại nói:
- Thế là con sai ít mà chú Bất Đạt sai nhiều. Thầy đã không bắt!
- Không, không phải thế đâu con! Thầy có bắt, nhưng không nuôi dưỡng hận thù, nên cái bắt của thầy khác với cái bắt của Bất Đạt!
Đầu óc của các đệ tử rối loạn như một mớ bòng bong, như tổ chim, chẳng biết đạo lý câu chuyện nó nằm ở đâu nữa!
Buổi chiều, trong giờ học Đạo, nhà sư lấy trong túi ra một lá thư bằng giấy học trò, nét chữ cứng cáp, không thẳng hàng thẳng lối, chẳng có chấm phết, sai chính tả lung tung.
Liễu Minh và Bất Đạt chăm chú đọc:
Thưa thầy,
Thầy biết con là thằn ăn cắp không những hai vòng thắn mà còn ăn cắp một tượng Phật nhỏ bằng đồng đen, ăn cắp 10 giò phong lan tước đây nữa. Thầy biết mà thầy lặng lẽ không nói với ai, cũng không hề tả lời một câu khi công an xã qua điều ta! Bây giờ thầy lại còn giúp con vốn liếng, tiền ăn tiêu mười ngày để con lên “đá bạc” khai thác đá là nghề cũ tước đây của con. Tiền thầy cho, con còn dư dả để thắm thanh dụng cụ hành nghề. Ơn đức thầy thật là kể thao cho xiết. Con hứa từ nay cho đến tọn đời, con thề làm người lương thiện để khỏi phụ tấm lòng cao cả của thầy.
Con,...”
Lá thư bên dưới có ký tên nhưng nhà sư đã lấy kéo cắt đi rồi.
Bất Ác bây giờ mới cất giọng nói:
- Con nhận nhiệm vụ bí mật của thầy, con biết cả. Con nghe hai chú Liễu Minh và Bất Đạt cãi nhau, con chỉ cười.
Nhà sư hỏi:
- Con cười sao?
- Con cười vì cả hai chú đều sai!
- Không đâu con! Cả hai chú đều không sai!
Câu trả lời của nhà sư thật bất ngờ.
Nhà sư lại phải giải thích:
- Cả hai không sai, nhưng cả hai chú đều không đúng! Tại sao vậy? Vì trên sự tướng, tha hay bắt không quan trọng.
Tha hay bắt chỉ quan trọng là khi tha để làm gì và bắt để làm gì? Tha rồi có giáo hóa được người và bắt thì có giáo hóa được người? Trên tất cả, đối với chúng ta, tha hay bắt là để học bài học giác ngộ mà thôi!
Bất Đạt chợt nói:
- Ý con cũng có thể là vậy lắm! Con bắt rồi con sẽ tìm cách giáo dục người ta nữa chứ!
Liễu Minh nhíu mày:
- Chú mà giáo dục! Chú thượng cẳng chân hạ cẳng tay thì có! Rồi chú còn bắt trói người ta mà giải qua công an! Cái bắt đó là cái bắt của người đời, chỉ tăng thêm oán thù chứ không được tích sự gì!
Bất Đạt không giận mà cười khì khì:
- Còn chú thì sao hử? Chú tha rồi chú giáo dục người ta làm sao nào, nói đi? Tha trống không cái kiểu của chú thì chi bằng kêu ba thằng ăn trộm vô khiêng chùa chiền đi hết cho khỏe! Vậy là tha theo hạnh bố thí ba-la-mật đấy!
Nhà sư khoát tay:
- Các con tranh cãi hay tranh luận đấy? Các con đừng nghĩ rằng giải pháp của thầy là tối ưu, từ đó, lấy làm thước đo để xử sự ở đời! Các con có biết rằng, tha hay bắt chỉ là sự thể hiện bên ngoài? Tha hay bắt rồi sau đó tìm cách giáo hóa, cũng chỉ là sự khôn ngoan của sự thể hiện bên ngoài ấy mà thôi. Có một cái tâm, các con ạ! Khi biết cái tâm ấy, trú nơi cái tâm ấy, thì tha hay bắt đều trở nên đúng cả vậy. Tâm ấy là tâm gì, ai biết?
Cả ba chú đồng đáp:
- Dạ, tâm từ!
- Đúng thế! Vậy thì từ rày về sau, khi gặp bất cứ tình huống nào cũng phải sáng suốt, bình tĩnh. Sáng suốt là Tuệ, bình tĩnh là Định. Từ Tuệ, từ Định mà khởi tâm từ thì mọi hành động của các con đều phù hợp với giáo pháp cả, không sợ sai lầm đâu!
- Chúng con đã hiểu cả rồi. Ôi! Thật tuyệt vời thay cái bài học hôm nay!
Nhà sư từ bi nhìn ba chú, tủm tỉm cười, thầm nghĩ: “Chỉ nên dẫn cho chúng lên ngang chỗ đó thôi!
Chúng đâu có hiểu rằng, tâm từ còn có trước ý, dụng ý, còn vấn đề lợi và hại, hay và dở, tốt và xấu thì tâm từ ấy đâu đã được gọi là từ vô lượng?”
Huyền Không

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012

Kinh Sám Hối minh họa


Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát trong Tam Kỳ Phổ Độ




ĐỨC ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT
TRONG TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Đạt Tường


I. SỰ HIỆN DIỆN CỦA ĐỨC ĐỊA TẠNG VƯƠNG
   TRONG CAO ĐÀI GIÁO
- Thuở mới lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, vào buổi ban sơ ấy Cao Đài giáo có sử dụng một số bài kinh cúng của Phật giáo như Bát Nhã Ba La Mật Kinh,… cho nên việc cầu nguyện với chư Phật và Bồ Tát là thường xuyên.
Ngay trong năm đầu tiên – Bính Dần 1926, Đức Chí Tôn đã dạy chư vị Tiền Khai tìm thỉnh thêm kinh từ Ngũ Chi Minh Đạo.[1] Sau khi chư vị đến Minh Lý Đạo để tham khảo, trong đàn ngày 28.6 Bính Dần (06.8.1926), Đức Thái Thượng Đạo Tổ dạy quý vị bên Minh Lý:
Chư nhu phải sắm 12 cuốn Kinh Sám Hối… cho đi mời Trung, Lịch, Kỳ lại nhà chư nhu, biểu chúng nó làm lễ mà thỉnh kinh ấy.” [2]
Trong số các kinh này có bài do Đức Chuẩn Đề Bồ Tát giáng cơ ban cho, đoạn đầu như sau:
“Đầu vọng bái Tây Phương Phật Tổ,
A Di Đà Phật độ chúng dân;
Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,
Vớt lê thứ khổ trần đọa lạc.
Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát,
Bố từ bi tế bạt vong hồn.(...)”
Minh Lý Đạo gọi bài kinh này là Sám Cầu Siêu. Cầu siêu có nghĩa là cầu nguyện, xin cho vong linh được siêu rỗi, thoát qua cảnh đọa đày ở chốn U Minh. Theo truyền thống của nhà Phật, Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát được xem là Đấng chánh yếu có vai trò siêu độ chúng sanh.
- Qua cơ bút Cao Đài, Đức Địa Tạng Vương được nhắc đến trong việc cầu nguyện để giúp cho vong linh được siêu thoát bắt đầu hiện diện vào ngày 28.8.1926 [3] khi thân mẫu của Ngài Nguyễn Trung Hậu [4] tạ thế. Lúc đó, chư Tiền Khai lập đàn cầu Thầy hỏi về cách thức cử hành tang lễ. Hôm đó Thầy dạy:
Con Trung, con viết một lá sớ như vầy:
Lịnh Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát hứa dữ Địa Tạng Vương Bồ Tát khả thâu chơn hồn thị… tử… nhựt… ngọat… niên, giam tại Vọng Thiên Cung.
Chờ công quả Hậu mà thăng lần lên.” [5]
Qua đây chúng ta thấy muốn cầu cho Cửu Huyền Thất Tổ được siêu thoát cần thực hiện việc đọc kinh cầu nguyện siêu độ. Trong số những Đấng Thiêng Liêng có vai trò cứu độ vong linh thì vai trò của Đức Địa Tạng Bồ Tát rất quan trọng không thể thiếu. Thời Tam Kỳ Phổ Độ, Cao Đài giáo kế thừa và phát huy truyền thống của Tam Giáo, riêng trong việc cầu siêu độ tử kế thừa tinh hoa văn hóa Phật giáo nhất là mỗi khi vào dịp tháng 7 âm lịch hàng năm lại càng làm nổi bật hình ảnh của Đức Địa Tạng Bồ Tát.
Cũng vì thế, mỗi khi cần thực hiện nghi thức cầu siêu trong các đám tang, cúng cửu cho đạo hữu Cao Đài hay cho các đẳng cô hồn hoặc chiến sĩ trận vong, v.v... thì việc hướng về Ngài để cầu nguyện không thể nào thiếu được. Mặc dầu trong nghi thức thờ phượng của Cao Đài giáo không hề có sự hiện diện của Đức Địa Tạng Vương nhưng trong các bài kinh siêu độ danh của Ngài không thể nào thiếu vắng.