Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

Chữ Định và chữ Nhẫn



THẦY DẠY VỀ CHỮ ĐỊNH VÀ CHỮ NHẪN
(Trích Kinh “Vô Thừa Chơn Giáo”)

THI:
Cao Thiên giáng hạ điển đàn tiền,
Đài Bửu thành tâm giải nghiệp duyên;
Tiên Phật đồng thanh hòa thế tục,
Ông trương giáo pháp định thần yên.

Theo như thường lệ Sóc Vọng khai đàn, Thầy dạy những khẩu khuyết bí pháp để làm mực thước dạy đời, Phục Nguyên con có hiểu rõ hay không?
P.N: Kỉnh bạch Thầy con đã hiểu rõ!
THẦY: Hôm nay Thầy dạy tiếp về chữ “Định”, rồi sau đó Thầy sẽ dạy mầu nhiệm về chữ “Nhẫn”.

BÀI:
Nay Thầy giảng tiếp về chữ “Định”,
Nối truyền nhau thành kỉnh Đạo Thầy;
Định đi con thấy đạo khai,
Định lòng mới biết quả dày hay nông!
Định bổn thân giải vòng đau khổ,
Định nơi ý tiêu chỗ vọng sanh;
Định khẩu thì Đạo tác thành,
Định hòa các khiếu đơm nhành Như Lai.
Định chín phương Thầy sai chư tướng,
Định mười cõi thành ngưỡng tâm từ;
Định trung mực thước chơn như,
Định nơi Thiên trụ Đại Từ bố ban.
Định song mâu “Nhãn tàng Diệu Pháp”,
Định “Cực Đồ Bửu Pháp Tiên Ông”;
Định xoay Bát Quái chín vòng,
Định trừ Tam Nghiệp mới thông vẹn mười.
Định trừ động chớ lười con hỡi,
Định trừ tà vì bởi tâm mê;
Định sanh yến sáng bồ đề,
Định vào hư tịch não nề xóa tan!
Định một điểm xé màn huyền bí,
Định Hà Đồ khơi chỉ nam mô;
Định khi tương khắc mịt mờ,
Định trong mới thấy Đồ Thơ bí truyền.
Định nhíp tánh tự nhiên con nhé!
Định khép lòng con sẽ thấy ngay;
Định riu riu xuất điển đài,
Định cung Nê khiếu huệ khai Bửu truyền.
Định đúng giờ Đồ Thiên xoay chiếu,
Định trọn thời am hiểu Thiên cơ;
Chữ Định con chớ hững hờ,
Rất là trọng yếu tu thời biết ngay!
 Thầy giảng định hôm nay con rõ,
Về mầu nhiệm tỏ ngộ thành tâm;
Định ngoài xóa sạch lỗi lầm,
Định đi con thấy uyên thâm chánh truyền.
Vì bao đời không yên nghiệp quả!
Nay dùng định mô tả lý huyền;
Định vào hít thở hạo nhiên,
Định trong “Vô Cực” đầu tiên điển Thầy.
Định huờn bổn tâm chay bí mật,
Định phá vòng chồng chất bấy lâu!
Có Định con mới gồm thâu,
Rút vào khí lực nơi bầu âm dương.
Con có định ghét thương sẽ bỏ,
Con dùng định để có quyền năng;
Con định khí nhíp chơn thần,
Đó là vi diệu rất cần người tu!
Lấy chữ định phá tù u tối,
Dùng chữ Định nơi cõi Niết Bàn;
Chữ Định trừ thói ngổn ngang,
Định tâm, định tánh, lên thoàn Long Hoa.
Định Thần Thất Bửu Tòa khai vị,
Định chủ trì mở lý siêu nhiên;
Định chìm trong lúc tham thiền,
Trừ tiêu phát động tự nhiên phát thành.
Vì Thầy thấy trường sanh nghiệp quả!
Bởi tàn nguơn nghiệp trả không vay;
Cho nên Thầy dạy Định ngay,
Trừ tiêu lục tặc thường bày biện trong.
Cơ sàng sảy nếu không định tánh,
E cuồng tâm trống rỗng ma xen;
Nếu tu phải nhíp bao phen,
Lấy Định làm gốc thắp đèn chơn tri!
Dùng chữ Định đánh ly trược cấu,
Dầu hậu thiên tạo bấu thân lòng;
Nhưng mà con Định huờn không,
Thì đâu sanh dữ bên trong tặc đồ?
Do bí yếu “Huờn Vô” nhíp tánh, 
Thế hôm nay tạo cảnh thiện từ;
Thầy dạy chữ Định tâm tư,
Đem vào trọng điểm để tu trọn lành.

Đó Phục Nguyên ! Con có rõ chữ Định này hay không?
P.N: Kính bạch Thầy con đã rõ!
THẦY: không phải dùng chữ định là nói ngồi không biết chi, cũng không phải nói Định là câm nín, nhưng phải hiểu rõ định là như thế nào và định từ nơi đâu, xuất phát từ nơi đâu và kềm chế từ nơi đâu đó Phục Nguyên!


THI:
Định tâm xuất phát điểm Huỳnh trung,
Định tánh kềm an chớ ruỗi dong;
Định ngoại thân yêu thường bất động,
Định lòng nhíp bổn chẳng lao lung.

BÀI
Vì chữ định con đừng vi diệu,
Giúp ích nhiều có hiểu hay chăng?
Chữ định con chế chơn thần,
Phát sanh Đạo khởi hòa ngân Bửu truyền.
Định đi con Huyền Thiên trợ điển,
Định mở khiếu biến chuyển con hành;
Định đi nguồn Đạo khởi sanh,
Điểm định xuất phát tâm lành qui y.
Định từ từ con ghi nhớ lấy,
Định chế hồn đào thải trược âm;
Định dương huyền mật phóng tầm,
Định âm kết nạp con tầm bổn nguyên.

HỰU
Bổn nguyên Phật tánh chiếu huyền hư,
Con định lòng chơn tiếp Đại Từ;
Chế phách luyện hồn y đủ số,
“Điền Ly chiết Khảm” mở tâm tư.
Tâm tư nặng trĩu mối dây oan!
Định tánh huờn không ngộ “Nhãn Tàng”;
Mật bửu “Tâm kinh” Thầy tỏ rõ,
Đạo lòng bỉ ngạn bước sang ngang.
Sang ngang bến tục Đạo tương sanh,
Nhíp bổn chơn như định tánh lành;
Diệu khuyết nhơn ông gom một điểm,
Huỳnh tiền “Thái Cực” nở huê nhành.
Nhành dương tịnh thủy nước ma ha, 
Tam muội hòa chung thấy Phật Đà;
Cứu cánh tâm hồn xa bến tục,
Quày đầu diệu hiệp điển Trời Cha.

Đó Phục Nguyên!
Hôm nay Thầy tiếp Phục Nguyên con hãy thành tâm, Thầy giảng tiếp về chữ “Nhẫn”. Vì kỳ mạt pháp hạ nguơn này tu lẫn lộn, tu sàng sảy này, Thầy chọn lọc thật là kỹ lưỡng. Vì số nguyên nhân không về đủ, thế nên, trong kỳ tam này bao nhiêu chộn lộn với nhau để tu hành, thì Thầy xét thấy rằng trong số những nguyên nhân đó, như con đã thấy, người tu mà không “Nhẫn Nhục” thì không tác thành được Đại Đạo bao giờ! Phải không con Phục Nguyên?
P.N: Kỉnh bạch Thầy đúng vậy!
THẦY: Thế cho nên, từ từ Thầy sẽ dạy từ thứ lớp về vấn đề tu hành có những điểm trọng yếu nhưng nếu không hiểu rõ những điểm yếu này thì e rằng đường tu khó tiến đạt mà cũng không trọn kiếp tu này mà tạo thành được. Bởi vì Thầy cho biết rằng cơ sàng sảy đã đến cận kề quá rồi mà thời gian sống chết của con người có giới hạn! Thế cho nên, luật vô thường Thầy mong rằng các con hiểu rõ để rốt ráo tu hành kẻo không kịp trong hơi thở cuối cùng của mình, phải không Phục Nguyên con?
P.N. Bạch Thầy đúng vậy!
THẦY: Vì chữ “Nhẫn” rất trọng yếu trong vấn đề tu hành mà theo Thầy giảng rằng: người đời nếu không tu, mà muốn làm một bậc vĩ nhân cũng phải dùng chữ nhẫn huống hồ chi người tu không dùng chữ nhẫn thì làm sao đạo sanh mà phát triển khởi tâm từ đặng, phải không Phục Nguyên con ?
P.N. Bạch Thầy đúng vậy !
THẦY:

BÀI:
Điển đàn Thầy tiếp hôm nay,
Giảng về chữ “Nhẫn” con rày hiểu thêm;
Ôi! Quả báo tiền khiên chẳng dứt,
Nghiệp chúng sanh quá sức kinh hồn.
Động lòng nơi Đấng Chí Tôn,
Nên Thầy giảng dạy huờn hồn nguyên nhân;
Cơ sàng sảy rất gần con hỡi!
Phút vô thường đi tới không lui!
Thương con tu nếm nặng mùi,
Nhưng mà không nhẫn rèn trui tâm lòng;
Nên Thầy giảng thông đồng lý diệu,
Cho con tường điển chiếu huờn kinh.
Tâm lành trụ đạo Huỳnh đình,
Học về chữ nhẫn phát sinh tâm hiền;
Gương Hàn Tín lòn tuốt chợ đời;
Nhẫn lòng chịu đựng ngày trôi,
Công hầu bực nhứt đương thời Hán tranh.
Nhẫn Trương Lương sẵn dành tâm thiện,
Đã bao lần nơi biển phía Đông;
Luôn luôn tâm thiện ôm lòng,
Hạ mình xách dép ba lần không ngơi!
Nhẫn Tử Nha suốt đời nghèo khổ,
Áo rách rưới khắp chỗ lở loang;
Quần tơi chẳng dép chợ đàng,
Ngẫm nghiền thông suốt thiện an cứu người.
Nên nhà Châu có người lịch lãm,
Vì dùng nhẫn mới dám thi công
Các con gương sử lấy lòng,
Đó là những bậc đã thông nhẫn hòa.
Nhẫn đi con hiệp Cha Đạo cả,
Nhẫn diệu huyền hãy xả xác thân;
Chữ nhẫn con phải chuyên cần,
Nhẫn là bí yếu tâm thần an vui.
Nhẫn Việt Vương nếm mùi đau khổ,
Biết bao năm nơi chỗ đọa đày;
Chịu nhiều khổ nhọc đắng cay,
Nhưng lòng ôm nhẫn đến ngày hôm sau.
Người chí lớn anh hào khí khái,
Dùng chữ nhẫn kết lại tấm lòng;
Đó là gương sáng sạch trong,
Con nên ghi nhớ nằm lòng đó con!
Nhẫn Văn Vương làm tròn phận sự,
Bảy năm trường trọn giữ bề tôi;
Lúc nào cũng nhẫn cho trôi,
Để thành Vũ Lý bậc ngôi Thánh Hiền.
Đó danh đời Phục Nguyên con hỡi!
Con dùng nhận cho trội danh thơm;
Người tu càng nhẫn kiên hơn,
Đó là hạnh đạo chu toàn bổn nguyên.
Nhẫn Di Đà phá xiềng u tối,
Chịu nhiều bề bao nỗi nhọc nhằn!
Thầy đem mắng chửi bao lần,
Đệ huynh cấu xé nhẫn cần ngậm câm.
Nhẫn Thích Ca đi tầm diệu pháp,
Biết bao lần đời đáp nhục ôi!
Luôn luôn sỉ vả nặng lời,
Chặt tay roi đánh vậy thời cũng yên.
Nhẫn Gia Tô lưu truyền hậu thế,
Để ngày sau thừa kế người hành;
Đinh đời đóng quả tim trong,
Máu trào tuôn đổ bao dòng thảm thương!
Nhưng vì nhẫn đoạn trường không biết,
Nguyện cho đời thảm thiết gào la!
Luôn luôn gọi Đấng Trời Cha,
Cứu người oan nghiệt để ra trọn lành.
Nhẫn Quan Âm bao năm lăn lóc,
Tu một xó mà học chơn truyền;
Dù cho bạc ác đảo điên,
Đốt chùa đánh sãi vẫn yên tâm lòng!
Nhẫn Trường Xuân bao năm lặn lội,
Biết bao lần nông nỗi hàm oan!
Nhưng mà câm nín chẳng than,
Thầy la cam phận quì hàng gối bên!
Nhẫn như thế đắp nền Đạo pháp,
Nhẫn như vậy mới đáp lòng từ;
Nhẫn kiên cho trọn tâm tư,
Dựng đàn Thầy hẹn chiều khai chánh truyền.

Thôi Thầy thăng, chiều Thầy dạy tiếp về chữ “Nhẫn”. Vì chữ nhẫn không phải đơn giản như thế. Thầy chỉ nói đại khái những gương sử đời, rồi Thầy sẽ nói những gương Đạo để cho con gìn tâm mà trọn lòng. Đó là dùng chữ nhẫn điêu luyện lấy tâm đạo của mình.
Thôi Thầy thăng.

Dậu thời.
ĐẠI TỪ PHỤ DẠY TIẾP CHỮ NHẪN

THI
Nam Cung chuyển đạo độ trần gian,
Phương thức tu tâm giải mộng vàng;
Giáo hóa nguyên nhân huờn bổn gốc,
Chủ trì đức hạnh xiển kim cang.

Này Phục Nguyên! Để tiếp theo đề tài chữ “Nhẫn”, Thầy giảng dạy thêm cho con kinh nghiệm hành đạo cùng giáo hóa nguyên nhân trong kỳ mạt pháp này.
Vì do kỳ hạ nguơn, kẻ tu thì lại ít, người mê lại nhiều mà người tu thì đa lý đa sự phải không con Phục Nguyên?
P.N. Bạch Thầy đúng như vậy!
THẦY: Cho nên dùng lý phá lý, dùng sự phá sự đó Phục Nguyên con! Chớ nói chủ về đạo thì không có nói nhiều phải không?
P.N: Kỉnh bạch Thầy đúng vậy !

THẦY :THI:
NHẪN hòa hành hạ đúng người tu,
Nhẫn chịu gian nan phá mịt mù;
Nhẫn nại cho lòng mau tiến bước,
Nhẫn kiên định tỉnh hiệp chơn như.

BÀI 
Nay Thầy giảng dạy về chữ Nhẫn,
Nhẫn vun bồi giải nạn phù sinh;
Cho nên nghiên cứu hữu hình,
Luận đề thuyết giảng huờn minh tu trì.
Vì mạt pháp kỳ thi phút chót,
Lý càng nhiều nên lọt diêm phù;
Người tu đa sự là ngu,
Thầy xoay cơ chuyển tâm tư hiệp về.
Chỉ do tâm làm đề trước nhứt,
Tâm phá lý vô cực siêu hình,
Tâm không nào vướng sắc thinh,
Quay về chỉ một câu kinh “Vô Thừa”.
Do vì lý đẩy đưa mê muội,
Lý giảng hoài dong ruỗi chơn linh;
Thế nên đắm lụy hữu tình,
Hơi tàn khí dứt đeo nghìn sầu đau!
Còn đa sự thì nào phát triển,
Mạch đạo lòng tâm thiển cận suy;
Đó là những kẻ vô nghì,
Đúng chơn tu thật phải qui thanh lòng.
Vì có lý chấp tông cuồng thói,
Lại thêm sự buộc trói chúng sinh!
Nhập vào với khẩu hữu hình,
Nói sao cho hết vẹn tình thế gian?!
Cơ sàng sảy đa đoan đau khổ!
Kíp mau tu giác ngộ chơn lòng;
Ló mòi nguồn Đạo khai thong,
Ngược bằng ắt bị não nồng đau thương.
Đó Phục Nguyên!
P.N: Con kính vâng!
THẦY:
Hàng tu hành chỉ sợ Thân Khẩu Ý không được thanh tịnh.
Thế cho nên, trường hợp con gặp những kẻ đa sự cũng chẳng nên tiếp; vì đa lý đa sự thì không đúng hạnh người tu, mà trong thời kỳ mạt pháp này chỉ lo tu không kịp, chớ không phải ngồi đó rồi đa lý, đạ sự, phải không Phục Nguyên con?
P.N: Kỉnh bạch Thầy đúng vậy! Lâu nay con cũng hằng thận trọng điều Thầy đã dạy.
THẦY: Vì Thân Khẩu Ý nếu không thanh tịnh :
- Thân không thanh tịnh sẽ diêu động mãi mãi thì làm sao tham thiền nhập định đi đến rốt ráo đặng.
- Khẩu không thanh tịnh thì diêu động mãi mãi làm cho tâm hồn xáo trộn và tạo thêm cái nghiệp khẩu, phải không? Mà trong tất cả các nghiệp chỉ có nghiệp khẩu là nặng nhứt.- Rồi Ý không thanh tịnh thì làm sao định được mà chữ định rất là quan trọng theo Thầy đã giảng. Nếu không định là không gom được chơn thần; mà không gom được chơn thần thì không hiệp với Đại Từ Phụ Kỳ tam này !
Vì trong kỳ tam này Thầy chưởng quản mối đạo của Thầy, Thầy khai sáng, Thầy ân xá để cho các con dưới mặt hữu hình này tu rút ngắn thời giờ, rút ngắn trong đường tu để mà giải thoát trong kiếp phù sinh đau khổ này; không có ai qua quyền Thầy đặng, vì kỳ tam này quá ư là hậu thiên, phải không Phục Nguyên?
P.N: Kỉnh Thầy đúng như vậy !
THẦY: Dù cho thời Nhứt Kỳ có Nhiên Đăng Phật Đạo – Thời Nhị kỳ có Thích Ca; nhưng Kỳ tam này Thầy không giao mối Đạo cho một ai, là vì do Thầy xét thấy rằng các con quá ư là trầm kha mê muội, nên Thầy phải xạ điển lực để cho oai linh đánh tản cái phần mê của các con ra mà trở lại tu. Đó là quyền hành của Thầy là như thế đó, nếu các con tu mà còn lý sự Thầy e mắc lầm phải ma Vương cuồng ngông làm xáo trộn tâm tư các con không tu được, dẫn đi sai đường lạc lối, đó Phục Nguyên! Thế cho nên con phải dè dặt vì khẩu là trọng tâm,
nghiệp khẩu rất ư nặng nề, mà nghiệp khẩu cũng đưa đến bước đường sa đọa!


Thầy giảng tiếp sâu vào chữ Nhẫn,
Hạnh người tu phải nắm vững lòng;
Nhẫn đi nguồn đạo sạch trong,
Nhẫn kiên chịu đựng thông đồng tiên thiên.
Nhẫn chịu hết lụy phiền dương thế, 
Nhẫn cho mình giải kế quần ma;
Nhẫn tâm con phải hiệp hòa,
Nhẫn đâu trước hết Tam gia mới về.
Nhẫn nhẫn đi mà kề Từ Phụ,
Nhẫn cho xong kết đủ tháng ngày;
Nhẫn lòng để Đạo phát khai,
Nhẫn mình trước hết chớ lai lung lòng!
Nhẫn sự việc cho xong tất cả,
Nhẫn hạ mình giải họa thế gian;
Nhẫn kiên xóa bỏ thảm nàn,
Nhẫn là hạnh nguyện Kim cang hành trì.
Nhẫn mới thấy kỳ thi phút chót,
Nhẫn hạ mình đẻo gọt thân tâm;
Nhẫn đi con thấy diệu thâm,
Nhẫn bình hòa ái xoay mầm Như Lai.
Nhẫn mà chịu dạn dày đau khổ!
Nhẫn rèn mình đến chỗ “Không không”
Nhẫn tu mới thấy rõ lòng,
Nhẫn đi con sẽ thông đồng Vô Vi.
Không có nhẫn ắt thì không đạt,
Có nhẫn lòng giải thoát mau lên; 
Người tu lấy nhẫn làm nền,
Nhẫn xây kiên cố đề tên Niết Bàn.
Nhẫn cho qua các đàng rắc rối,
Nhẫn tự rèn các thói chúng sinh;
Nhẫn là chịu đựng tự mình,
Con tu phải lấy nhẫn sinh làm đầu.
Kỳ mạt pháp ngũ châu rối loạn,
Con càng nhẫn tóm gọn Tiên Thiên;
Nhẫn lo con tự chủ quyền,
Nhẫn đi mới thấy hạo nhiên lấy về.

THI
Nhẫn nại tròn xong hạnh nguyện lòng,
Nhẫn bình tác tạo lý Không Không;
Nhẫn khai diệu khuyết hòa tâm thể,
Nhẫn chịu gian nan diệt ngã không.

BÀI
Thầy thương trẻ giảng dòng Đạo lý,
Khuyên con trần ngẫm nghĩ vào tâm;
Con ơi! Đâu sống trăm năm,
Thân tàn ma dại nặng trầm khổ đau? 
Kiếp phong sương dạt dào tê tái,
Làm con người thì phải khổ đau;
Chịu nhiều sóng gió ba đào,
Bởi con mê muội ngọt ngào trần gian!
Nay Thầy giảng lên đàng tu học,
Để con hiểu tự lọc thân tâm;
Con tu đừng có lạc nhầm,
Đạo Thầy chỉ một câu Tâm làm đầu!
Tâm chủ vì nhíp bầu “Hư Khí”,
Con gìn tâm hòa lý thiên nhiên;
Hư linh đoạt máy diệu huyền,
Đó là trọng yếu Huyền Thiên khuyên lần.
Vì sát phạt nhân dân thảm ách,
Chúng sanh tàn cưỡng bách để tu;
Thảm nàn cơn lốc mịt mù!
Ấy là cơ trận Thầy trừ ác ma!
Vì con trần đã xa mùi Đạo,
Mãi đến gần lơ láo ma vương;
Gây nên thảm cảnh đoạn trường,
Nhóm mùi vật chất ghét thương vô chừng!
Động lòng Thầy Huyền Khung tế độ,
Giáng đàn tiền Thầy lộ Thiên cơ;
Để con chớ có vực ngờ,
Lo tu sửa tánh ngày giờ mau đi!
Thầy dạy trẻ những gì siêu đẳng,
Tu không khó vì chẳng ý sâu;
Tu mà con mãi cứng đầu,
Làm sao đạt đạo gồm thâu lý huyền!
Do không nhẫn ngửa nghiêng tâm tánh,
Chẳng sửa lòng tròn hạnh người tu;
Lại không tạo tác tâm từ,
Nay Thầy đã giảng tâm tư để vào.
Thôi Thầy hẹn đàn sau sẽ tiếp,
Về chữ nhẫn mau kíp y hành;
Hòa nguồn mạch lý tương sanh,
Phục Nguyên bươn chải trọn lành thế thiên !
Con phải ráng tham thiền chững chạc,
Giải mộng sầu để đạt “Không Không”;
Trong cơn thảm ách nặc nồng!
Tiên Thiên Thầy xạ vào trong “Hư Huyền”.
Con phải tịnh y nguyên điều tánh,
Thầy trợ điển để lãnh mạng Trời;
Cứu người đau khổ muôn nơi,
Con dùng “Siêu Pháp” không lời độ tha!

Đó Phục Nguyên! Thôi Thầy thăng, đàn sau Thầy sẽ tiếp.

Ngọc Kinh toàn tập


NGỌC KINH TOÀN TẬP

Quý anh chị em vào đường link sau để cùng đọc "Ngọc Kinh Toàn Tập" (Quyển 1,2,3):


Chánh Tuân.

Ba lời nói dối



BA LỜI NÓI DỐI
J.C.Watts

J.C.Watts hiện là chủ tịch GOPAC – một tổ chức đào tạo cho những người theo đuổi sự nghiệp chính trị tại Mỹ.
Dưới đây là bài diễn thuyết của ông trước toàn thể sinh viên học sinh ở Altus , Oklahoma.
Có ba lời nói dối ở đất Mỹ ngày nay mà tôi mong muốn tất cả các bạn đều nhận thức được.

Lời nói dối đầu tiên là "Tôi được phép mắc lỗi".
Các bạn trẻ, lời nói dối đó sẽ làm cho các bạn liên tục vấp ngã mỗi khi bạn nghĩ rằng mình có quyền được phạm sai lầm. Tất cả chúng ta, ai cũng từng phạm sai lầm, nhưng thực chất thì chúng ta không được quyền phạm sai lầm. Nếu bạn sống mà cứ tin tưởng vào lời nói dối đó, bạn sẽ vấp phải hết trở ngại này đến trở ngại khác, không bao giờ có được phương hướng hay tài sản gì trong cuộc sống.
Các bạn là những người trẻ nên không biết được câu chuyện về chàng Len Bias. Cậu ấy là một tiền đạo bóng rổ của trường ĐH Maryland . Cậu chơi dự bị cho Boston Celtics, được dự đoán sẽ trở thành một ngôi sao, cùng với Larry Bird, Kevin McHale, và Robert Parrish, có thể đem chức vô địch về cho đội mình. Len Bias rất cao to, khỏe mạnh, nhảy và giữ bóng tốt, ném bóng hay, nhanh như sóc và có nhiều người ví cậu với Michael Jordan. Có một vài người bạn của Len Bias tới chơi. Họ chúc mừng cậu là người đầu tiên được chơi cho đội bóng rổ nhà nghề. Họ mang theo một ít cocaine. Len Bias thử một chút, và chỉ trong một vài phút, tim cậu ấy phản ứng lại với cocaine, và cuộc sống đã rời bỏ cậu. Đến bây giờ, tôi vẫn không xác minh được cậu ấy đã từng sử dụng ma túy hay không.
Tận sâu thẳm trong tâm trí, tôi không nghĩ rằng Len Bias từng nghĩ "Có chuyện gì to tát đâu. Mình cũng chỉ là người. Cũng có quyền đựơc phạm sai lầm chứ. Nếu mình bị bắt thì sao? Nếu bị sốc thì sao? Mà thế thì có sao? Mình chỉ là người thôi, tất nhiên có khi phạm sai lầm chứ!".
Các bạn trẻ, chỉ một sai lầm đó đã làm Len Bias mất cả mạng sống. Đó là lý do tại sao bạn đừng nên tin rằng "Tôi tất nhiên được phạm sai lầm". Chúng ta ai ai cũng có sai lầm, nhưng chúng ta không "tất nhiên" gì với những sai lầm cả. 
 
Lời nói dối thứ hai, rất phổ biến ở bậc phổ thông, đó là "Chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra với mình đâu".
Các bạn trẻ, chúng ta ai cũng có niềm tin kiểu như thế. Chúng ta luôn tin rằng tất cả những điều xấu trong cuộc sống sẽ xảy ra với người khác, chứ không bao giờ xảy ra với chúng ta cả. Chúng ta tự bảo mình như thế – không bao giờ xảy ra với mình đâu!
Có một câu chuyện xảy ra 6 năm về trước mà nếu tôi có sống thêm 150 năm nữa, tôi cũng không thể nào quên. Tôi là một fan của môn bóng rổ và đội bóng tôi thích nhất là LA Lakers. Tôi đã từng thích thú xem Lakers thi đấu khi đội có Kareem Abdul-Jabbar, Magic Johnson, James Worthy, Maichael Cooper, toàn là ngôi sao. Tôi đã thích thú biết bao mỗi khi xem họ thi đấu!
Trong đó, vận động viên tôi thích nhất là Magic Johnson. Tôi thích nhìn cách anh ấy chơi bóng, rất khéo léo và nhanh nhẹn, lại có nụ cười rất dễ mến. Và có lần, khi từ sở làm về nhà để ngồi xem buổi họp báo của Lakers trên tivi, dĩ nhiên là có cả Magic Johnson nữa. Bạn có biết anh ấy nói gì với tất cả những thanh niên ở Mỹ không? Tôi sẽ không bao giờ quên điều đó, thậm chí nó còn văng vẳng bên tai tôi mỗi khi nhớ lại. Anh ấy nói: "Có lẽ tôi đã quá khờ dại. Tôi đã không bao giờ nghĩ chuyện này có thể xảy ra với tôi". Bạn biết Magic nói về điều gì không? Chuyện gì ma anh ấy nghĩ không thể xảy ra với mình? Magic Johnson có kết quả thử HIV dương tính! Và anh ấy nói: "Tôi đã không bao giờ nghĩ chuyện này có thể xảy ra với tôi". Tôi nghe anh ấy lặp đi lặp lại câu đó nhìêu lần…

Các bạn trẻ, mỗi khi các bạn làm sai việc gì, các bạn thường tự nói gì với mình? "À, chuyện đó chẳng bao giờ xảy ra với mình đâu mà!". Tôi vẫn nhớ 5 năm trước khi tôi bị mất cắp ôtô, ngay giữa ban ngày. Tôi nhớ khi viết bản tường trình cho cảnh sát, tôi đã viết rằng: "Không thể tin được là chuyện này lại xảy ra với tôi!". Chuyện này đáng lẽ phải xảy ra với những người khác. Tôi đọc thấy trên báo rồi, tôi xem trên tivi rồi, nhưng tôi không bao giờ nghĩ nó có thể xảy ra cho tôi… thế mà nó đã xảy ra.
Bạn có biết Peter Rose không? Anh ấy lẽ ra vẫn chơi bóng chày ở giải chuyên nghiệp. Nhưng anh ấy bị đuổi vì đã cá độ trong các trận bóng chày, và như thế là phạm luật. Sâu thẳm trong tôi, tôi không nghĩ rằng Peter đã nghĩ: "Ah, chuyện đó không thể xảy ra với mình đâu, mình không thể bị bắt vì cá độ được!". Giá như có ai có thể nói với Peter Rose và Magic Johnson rằng: "Magic và Pete này, đây có phải là kỳ nghỉ đáng giá của các cậu chăng? Nó có đáng để để phải đánh đổi cả sự nổi tiếng, nghề nghiệp và tương lai của các cậu? Các cậu đã làm gì vậy?". 
Các bạn trẻ à, chuyện gì cũng có thể xảy ra, với bất kỳ ai.
 
Lời nói dối thứ ba, các bạn hãy suy nghĩ thật kỹ để thật sự hiểu nó, đó là:
"Mình còn rất nhiều thời gian".
Các bạn trẻ, các bạn có biết mình thường tự nói gì với bản thân không? Chúng ta nghĩ: "Mình sẽ trở thành một cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp, mình sẽ trở thành một cầu thủ bóng rổ nổi tiếng! Thế thì mình khỏi phải lo về môn Toán, môn Chính tả, hay Vi tính… Mình còn rất nhiều thời gian cho chúng!".
Các bạn trẻ ơi, các bạn không hề còn nhiều thời gian đâu. Các bạn đang là những thanh niên, học sinh, sinh viên và các bạn phải tạ ơn thượng đế rằng vẫn còn có những con người lặng lẽ mà bạn gọi là giáo viên. Bạn phải cảm ơn thượng đế rằng bạn đang học với những giáo viên sẵn sàng phạt bạn, hoặc buộc bạn phải làm những gì bạn đã biết, vì họ tin rằng bạn có khả năng để hoàn tất công việc. Các bạn có hứng thú với rất nhiều thứ không liên quan tới khả năng của mình, không giúp gì cho công việc của mình sau này… Các bạn tự lừa dối mình vì các bạn không chịu dành thời gian cho những thứ mà bạn biết là cần thiết, như môn Toán, như Chính tả, như Vi tính…
Các bạn nghĩ: "Mình còn rất nhiều thời gian cho chúng!". Không, bạn không hề còn nhiều thời gian, vì hôm nay là ngày bạn bắt đầu chuẩn bị cho cả cuộc sống sau này của bạn. Và tôi hy vọng bạn sẽ bắt đầu chuẩn bị ngay từ hôm nay.

Tổng kết lại, có ba lời nói dối, đó là: "Mình được phép phạm lỗi". Không, các bạn không được phép như thế. Chúng ta tạo ra lỗi sai, nhưng chúng ta không được phép làm điều đó.
Lời nói dối thứ hai là "Điều đó sẽ không bao giờ xảy ra với mình đâu!". Đúng vậy, các bạn ạ, tất cả mọi việc đều có thể xảy ra với chúng ta.
Và lời nói dối thứ ba chính là "Mình còn rất nhiều thời gian!". Các bạn không có nhiều thời gian như vậy đâu. Tôi không biết bao nhiêu người trong số các bạn xem việc vào Đại Học là quan trọng. Một số trong các bạn có thể theo học ở một trường dạy nghề, số thể có thể tìm một việc làm ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông.
Tôi không biết các bạn rồi sẽ làm gì, nhưng hy vọng rằng các bạn sẽ hiểu được điều này: Những điều tốt đẹp luôn đến với những người chăm chỉ, trung thực và có trách nhiệm. Mong rằng các bạn sẽ có đủ lòng tin để dõng dạc nói rằng "Mình có thể làm được!".
Ngọc Anh dịch.


Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2010

Khuyên Nữ Phái gắng công tu học



KHUYÊN NỮ PHÁI GẮNG CÔNG TU HỌC
(HƯ VÔ CHƠN NHỨT, TÝ THỜI 01-09- NĂM ĐẠO 33 (MẬU TUẤT)


THI
hoa đua nở khắp trần gian,
SƠN nhắm nhơn sanh lắm nhộn nhàn;
THÁNH  thể vì đời sa lạc nẻo,
MẪU từ trông đợi lụy sầu chan.
Giờ nay Tôn Sư lâm đàn chào mừng các con đồ đệ đàn trung. Hôm nay Tôn sư vì lòng thành kỉnh của các đồ đệ nên chi Tôn Sư lâm đàn để lời cùng các đồ đệ trên bước đường đạo đức.
Nầy các con đồ đệ ôi! Đã sanh trên cõi thế tàn, tiếng tai lắm sự mỉa mai, vì tình đời nữ giới quanh năm chỉ chăm vào hai chữ gia đình, trên bước đường dài của bao thế hệ roi truyền mà các đồ đệ phải chịu với sự vá áo túi cơm của cảnh gia đình, không đi ngoài phạm vi giải thoát.
Nầy các đồ đệ mỗi con! Khi xưa đồ đệ con cũng là trang Tiên cô Thánh thể, vui hưởng bồ đoàn bạn tiên cùng vui trên vườn thượng uyển, Mẹ già đã lắm lúc chung hợp với mỗi đồ đệ con truyện trò vui vẻ nhắc nhở từ câu.
Khi các con mộng tưởng cuộc thế quì tâu, Mẹ liền cho các con tùy theo sự tưởng vọng, khi đi Mẹ có lời căn dặn đừng mến thế chuộng danh mà gây nhiều tội lỗi, nào ngờ các con khi hạ phàm, các con quên lời chỉ dạy. Theo vật chất thúc câu, làm cho linh tánh các con trở thành trược địa, Mẹ già tựa cửa ngóng đợi con thơ, chơn run tóc điểm, mòn mỏi thân gầy, trông mãi các con vẫn biệt dạng, Mẹ già lụy thảm sầu thương, mới xin cùng Bàn Đào Tây Điện để nương bút loan cơ, hầu chỉ truyền cho các con hồi tỉnh.
Trải qua thời gian dĩ vãng, lời chỉ dạy của Tôn sư, chồng chất tợ núi cao, bút cùn nghiêng cạn mà xem lại các con chưa được bao nhiêu chìu theo chí hướng để rồi đây có thể trở về với Mẹ già, Mẹ già trằn trọc suốt năm canh, trông sao sao vắng, trông nguyệt nguyệt lờ mà các con mất dạng!
Giờ đây Mẹ đưa tay hiền có nâng đỡ các con lên khỏi hang sâu vực thẳm, tưởng đến Mẹ già đang bồi công lập quả, công phu luyện hồn chế phách.
Tôn sư miễn lễ tọa thiền định tâm lóng nghe.
Nầy các đồ đệ ôi! Đường đạo càng ngày càng cao, thì sự chọn lọc cũng lắm nhiều thử thách, để dò ý của mỗi con xem coi có cứng rắn chăng? Hay là các con đã quá ham chuộng mộng trần, đành bỏ Mẹ già nơi cảnh Tiên Bang đó mỗi con.
Tôn sư cũng biết các con còn mang lấy xác thịt, thì các con cũng phải ít nhiều sự lỗi lầm, hay làm không đúng theo lời Mẹ chỉ dạy, nhưng dù sao các con cũng phải cố gắng để tìm cho thấu rõ, hầu một ngày gần đây Mẹ con được trùng phùng tái ngộ. Hôm nay các con đồ đệ, trên bước đường Đạo nhiều sự thử thách, cũng như nhiều phần chọn lọc, các con phải cố gắng vượt qua vài giai đoạn, chừng ấy Tôn Sư sẽ chỉ dạy các con trong giây lát đã thành chánh quả, không còn trển trệ như lâu nay, hiểu chăng các con đồ đệ? Cần yếu các con phải tưởng nhớ Mẹ già trên hòa dưới thuận, chị trước em sau đi cho đúng nhịp nhàng theo cơ chuyển vận ấy là đồ đệ mỗi con biết vâng lời chỉ phán của Tôn sư đó a mỗi con.

BÀI
Nhìn các trẻ hai hàng giọt lệ,
Thương quá thương mến thế hạ trần;
Bao phen chồng chất xác  thân,
Luân hồi kiếp kiếp lắm lần tử sanh.
Bởi các con không đành Mẹ ngó,
Để cho con mắc rọ lưới tà;
Cho nên Đạo mở kỳ ba,
Mẹ liền hạ bút độ mà các con.
Các con ôi! Đời mòn bóng xế,
Có chi đâu mà kể trường tồn;
Thân sanh như óc mượn hồn,
Có gì con lại dại khôn trò đời.
Mẹ đã rải nơi nơi bông trổ,
Trắng xanh vàng vô số năm châu;
Khi còn bông hé nụ đầu,
Màu hoa rất đẹp có đâu sánh bằng.
Khi bông đã lóc lăn bụi đóng,
Xem nhạt màu như bóng ban mai;
Thương con Mẹ để vắn dài,
Dạy con lớn nhỏ dồi mài sửa đoan.
Đừng để cho hoa tàn úa nhụy,
Chịu luật trời tiết khí đổi thay;
Rã bèn từ khóm lá lay,
Chỉ còn thân cuốn đọa đày kiếp sanh.
Giữa thời kỳ đạo lành cứu thế,
Con sớm toan đừng để trễ giờ;
Bóng qua không có đợi chờ,
Chập chồng tuổi hạc tiếng nhơ còn đời.
Con hữu phước Thầy trời ban bố,
Thì con tua tìm chỗ nương thân;
Đạo mầu học tập lần lần,
Cho ra vẻ đẹp mười phân vẹn mười.
Giờ rảnh việc con ôi khâu vá,
Lúc rảnh tay tầm tả kệ kinh;
Suy đi xét lại quanh mình,
Trong giờ thiện ác phát sinh bao lần.
Con đừng tưởng tấm thân là trọng,
Mà không lo rào phóng tâm điền;
Để cho buộc trói khiên xiềng,
Quây quần một kiếp oan khiên vẫn còn.
Còn hơi hóp thì con bay nhảy,
Lúc hơi tàn con phải tay không;
Bóng vàng chợ đã cận đông,
Con mau kẻo trễ trưa hồng tan đi.
Chuyến đò cùng Diêu Trì Mẫu đợi,
Đợi cho con thẳng tới động đào;
Thuyền từ đợi mãi nao nao,
Các con đông thật đông sao quá chừng.
Thuyền cất bến nước tưng cuộn chảy,
Khi đến nơi xem lại các con;
Té ra thuyền chẳng đặng còn,
Mấy con sang bến mỏi mòn Mẹ đây.
Lời cân nhắc đêm gầy giấc mộng,
Con lóng tai lòng trống ghi lòng;
Dù cho đời có tiền đong,
Hay là vàng khối cũng không có gì.
Chỉ có chăng trong khi đắc quả,
Tội phước trừ con hả lòng vui;
Hễ con biết đạo mến mùi,
Biết lo mỗi phận tới lui dắt dìu.
Tình chị em bao nhiêu cho đủ,
Nghĩa chị em quến rũ càng hay;
Chớ đừng tâm lại nhạt phai,
Làm cho đường đạo đến ngày mạt nguyên.
Mà xem lại con hiền vắng dạng,
Nầy con ôi! Cố ráng nghe con;
Lời vàng con phải lo tròn,
Lo công quả lập mót bòn chữ tu.
Tu là con giả ngu giả điếc,
Sự ngoài đời đừng liếc mắt nhìn;
Giả khờ một mặt khắc in,
Như người chẳng tưởng nhục vinh là gì.
Nay con đã vào thi cửa đạo,
Thì con lo học thạo pháp thoàn;
Luyện đi đổi Quí Nhâm sang,
Linh quang xuất hiện rõ ràng đời nay.
Con chịu khổ đắng cay với Mẹ,
Mẹ đâu đành không hé huyền vi;
Huyền vi ban trẻ chung qui,
Đủ đầy công quả mới thì thưởng cho.
Lò tạo hóa đắn đo thế cuộc,
Phận các con như thuốc bị cay;
Kém phần lịch duyệt hơn trai,
Mang câu túi vá ngàn ngày lỡ sinh.
Kìa gương xưa Lưu Huỳnh Trang Tử,
Nọ Mạnh Quân còn giữ trọn niềm;
Tuy là ở thế luật nghiêm,
Nhưng mà tâm lại chế kềm đủ phương.
Nay con Mẹ phân tường mọi lẽ,
Tự các con san sẻ tầm tòi;
Hễ là muốn đặng kẻ soi,
Muôn đời ca tụng thì noi việc làm.
Đời có chi con ham con mến,
Mến với ham đi đến tội tình;
Người đời có mấy nhục vinh,
Bao nhiêu tiếng tặng bao nghìn cái chê!!!
Đêm vắng vẻ bên lề dế gáy,
Tiếng ro re canh mãi đêm dài;
Thương con còn mãi đắng cay,
Cũng như con bị Cao Đài rẻ khinh.
Sự khinh rẻ do tình các trẻ,
Hễ con yêu con xẻ làm ba;
Khi con chênh lệch bất hòa,
Con đành xẻ bảy khó mà Mẹ đây.
Giờ mòn mỏi đêm dài mây phủ,
Tiết mùa Thu còn rũ hoa đơm;
Con ôi kiên cố bảo tồn,
Chờ ngày Mẹ định nhu ôn con nhờ.
Phần các con thiên thơ đã định,
Cảnh Hư Vô tu chỉnh trong ngoài;
Tuy là các trẻ kém tài,
Thiếu phần văn hóa thiếu ngày liên giao.
Nhưng cố gắng dù sao cũng ráng,
Chị cùng em chớ choản với nhau;
Sớm khuya giữ lấy một màu,
Cho tròn chung thỉ trước sau đạo trời.

Giờ quá nhặt thúc Tôn Sư để lời dạy chung các đồ đệ mỗi con.

NGÂM
Canh chầy sương phủ bao giăng,
Gió thưa thổi đến oại oằn lá cây.
Lời vàng Mẹ để đàn đây,
Các con lớn nhỏ giờ nầy nghe chung.
Giã con nữ giới đàn trung,
Mẹ hồi sơn đảnh trong vòng lặng yên.
Thăng.

(Trích Thánh Giáo Chơn Đạo Quyển 3 của Giáo Hội Cao Đài Thống Nhứt.)

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010

Ba người thầy vĩ đại




Ba người thầy vĩ đại
Trí tuệ không phải là trí tuệ nếu chỉ được rút ra từ sách vở.
Horace


Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông: “Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?” 

Hasan đáp: “Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta:

Người đầu tiên là một tên trộm. Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời: “Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với tên trộm”. 

Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo: “Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!” Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi: “Có trộm được gì không?” và ông ta đều đáp: “Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ.” Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc. 


Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hàng đêm vẫn quả quyết: “Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!”

Người thầy thứ hai là một con chó.
Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng là một con chó khác. Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. 


Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta: con người phải biết chiến thắng nỗi sợ hãi trong lòng bằng hành động. 
 
Người thầy cuối cùng là một đứa bé.
Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến đã thắp sáng để đặt trong đền thờ. 


Ta hỏi đứa bé: “Con tự thắp sáng cây nến này phải không?” Đứa bé đáp: “Thưa phải.” Đoạn ta hỏi: “Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thoáng sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?” 


Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói: “Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?” 
 


Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình. 
 
Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người khác. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật. Người thầy là người thông qua đó ta bắt đầu học cách học hỏi.



Sưu tầm

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010

Đời người một kiếp sống và tác dụng của Đạo Pháp



ĐỜI NGƯỜI MỘT KIẾP SỐNG
TÁC DỤNG CỦA ĐẠO PHÁP
Trích Dặm dài gánh Đạo của Đạo Trưởng Chí Tín


Sanh được làm người không phải dễ dầu gì đâu, nên Thánh nhân bảo: “Vi nhân nan đắc”.  Phải trải qua vô lượng kiếp luân hồi để tiến hóa từ vật chất, thảo mộc, thú cầm đến loài người, chịu biết bao nhiêu gian nan khổ ải. Rồi con người phải biết giác ngộ tu hành tiến lên thành chí chơn, chí thiện, chí mỹ là Thần, Thánh, Tiên, Phật để về hiệp nhứt cùng Đức Chí Tôn Thượng Đế nơi Bạch Ngọc Kinh hay Niết Bàn. Đó là định luật của Tạo Hóa. Có chuyển kiếp luân hồi mới có tiến hóa được, không một ai ở trên thế gian này thoát khỏi cả, dầu cho một bực Đại La Thiên Đế giáng phàm mà không tu cũng không trở lại vị cũ được. 
Khi con người bắt đầu có trí khôn thì hay tự hỏi mình là ai, từ đâu tới đây, đến cõi trần ai này để làm gì, sống chi để phải chịu muôn ngàn khổ đau, sanh lão bịnh tử - tứ khổ - như Phật đã dạy.
Sống để làm gì? Chết rồi còn sống hay tiêu tan theo gió bụi? Hoặc đi về đâu? Có còn tái sanh lại cõi trần này nữa hay không? Biết bao nhiêu thắc mắc giày vò trí não con người biết suy nghĩ. Khoa học dầu có tiến bộ vô ngần, trên thông thiên văn, dưới đạt địa lý, sử dụng được nguyên tử năng, làm cho đời sống vật chất con người được thoải mái không khác nào Thần Tiên, giao thông mau lẹ với máy bay phản lực, thông tin nháy mắt bằng vô tuyến điện, internet, điện thoại di động cầm tay, muốn nói chuyện với ai dầu xa xuôi khắp năm châu thế giới bất cứ lúc nào cũng được, thế mà chưa giải đáp thỏa mãn cho chúng ta những thắc mắc vừa kể trên. Có lẽ vì con người chưa tiến bộ về tâm linh đạt đến mức cao thượng thuần khiết nên Thượng Đế chưa cho phép sử dụng được tất cả quyền năng của Tạo Hóa đã sẵn dành cho con người vì Trời có gì con người đều có cả – Thầy đã xác nhận như vậy.
Lịch sử nhân loại đã chứng minh,
như dân tộc Atlantide thời cổ, vì sử dụng văn minh tiến bộ của mình vào vòng trụy lạc vật chất, gây tội lỗi cho nhân loại khổ đau nên phải bị luật Trời trừng phạt nhận sống cả một châu xuống đáy Đại Dương (Océan Atlantique). Trong đó, có một số người thoát chết lên xứ Ai Cập, nên xứ Ai Cập có một nền văn minh cổ rất cao, đã xây cất Kim Tự Tháp, một kỳ quan thế giới giữa sa mạc hoang vu mà nào có sử dụng cơ khí, xây dựng tối tân với kỹ thuật văn minh hiện đại như bây giờ chẳng hạn. Các nhà khảo cổ càng tìm tòi càng thấy nhiều huyền bí ẩn chứa trong Kim Tự Tháp. Giác quan con người bị giới hạn trong hữu hình vật chất nên lục căn (nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý) chưa đạt được lục thông (nhãn thông, nhĩ thông, tha tâm thông…). 
Các bậc Chơn Sư Ai Cập, Tây Tạng, Ấn Độ, Trung Hoa đã đắc Đạo tại thế và họ đã đạt được những bí quyết đó nhưng không được truyền bá cho đại chúng, vì chúng ta còn phàm phu tục tử, còn thất tình lục dục chận đè chi phối, còn nhiều dục vọng thấp hèn sẽ lạm dụng khoa bí truyền để mà hại đời dối chúng như chúng ta từng biết.
Nhờ các tôn giáo, các vị Thánh sư đã hé lộ lần lần chút ít như ngày nay. Riêng giáo lý Cao Đài đã giải đáp hầu hết các câu hỏi kể trên cho người tín hữu Cao Đài được thấu đáo nếu biết tin tưởng nơi các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Giáo lý Cao Đài cho biết con người chơn thật không phải chỉ có xác thân hữu hình này do tứ đại (đất, nước, lửa, gió) kết hợp tạo thành,
mà là điểm Linh Quang do Thượng Đế chiết ra từ khối Đại Linh Quang của Ngài cho xuống thế gian để tạm mượn xác thân hữu chất này làm nơi tạm trú cho linh hồn một thời gian hữu hạn vào khoảng 100 năm để học hỏi những kinh nghiệm, trui rèn bản tánh cho được sáng suốt, trở nên chí chơn, chí thiện, chí mỹ để trở nên hàng Thần, Thánh, Tiên, Phật và phản bổn huờn nguyên trở về hiệp nhứt cùng Khối Đại Linh Quang của Thượng Đế.
 Giáo lý Cao Đài cho là Nhứt bổn tán vạn thù (từ một nguồn gốc của Đại Linh Quang Thượng Đế tán ra vạn thù, tức là phân tán, phóng phát ra muôn phương hằng vạn triệu Linh Quang để tiến hóa), và cuối cùng vạn thù cũng phải qui về nhứt bổn, trở về cội nguồn là Đại Linh Quang của Thượng Đế.
Con người xuống cõi thế gian này như đã nói: chỉ tạm mượn một thời gian hữu hạn xác thân vật chất này để học hỏi, rèn luyện, trau giồi để tiến lên hàng Thần, Thánh, Tiên, Phật, vì thế chúng ta đừng coi xác thân hữu hình hữu hoại này là bền bỉ trường tồn vĩnh viễn để cầu trường sanh, đừng nên ôm chầm bám víu làm nô lệ cho nhục dục thúc đẩy để tạo nên tội lỗi oan nghiệt, mà phải chịu lôi cuốn mãi trong vòng luân hồi vay trả, trả vay không bao giờ dứt. 
Sứ mạng con người đến cõi dinh hoàn này, theo lời dạy của Đức Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Lý Thái Bạch Tiên Trưởng “là để làm công việc tiến hóa trong đức háo sanh của Thượng Đế. Trong một chuỗi tiến hóa đó mỗi hồn hay tiểu linh quang, có mang mỗi hình thể khác nhau, mỗi giai đoạn, mỗi một tiến trình đều mượn để mà tiến.” 
“Không nơi nào là trụ tướng bất di bất dịch. Trải qua một giai đoạn dài trên đường tiến hóa, những hồn ấy ví như một hoặc những khách lữ hành, từ Đông sang Tây, từ Nam qua Bắc, đã thay đổi biết bao nhiêu phương tiện để di chuyển. Linh hồn đối với những phương tiện là thể xác của mỗi giai đoạn nó đã mang, vì vậy Thiêng Liêng thường nói cõi đời là chốn phù du, là sông mê, là giả tạm, đừng ai quá chấp mà ôm chầm lấy nó để rồi hủy hoại bước đường tiến hóa.” Con người có một tính thiêng liêng hơn vạn vật, biết đâu là phải, đâu là trái, đâu là thiện ác, đâu là tội phước, đâu là liêm sỉ, đâu là không liêm sỉ... Con người phải biết tự mình làm cho mình tiến hóa, đó là bổn phận vi nhân tại thế do Thiên cơ định đọat. Tiến hóa cách nào?
Theo lời dạy của Đức Vạn Hạnh Thiền Sư
: “tiến hóa bằng cách tu học, tu hành khêu tỏ ngọn đèn thiên lương và giữ ánh sáng thiêng liêng ấy mãi mãi trong nội tâm (tức là tự giác) kế đến là đem Đạo vào đời (tức là giác tha) để cảnh tỉnh, giác ngộ người đời hiểu biết để cùng khêu tỏ ngọn đèn thiên lương ấy mà danh từ Đạo học gọi là tâm đăng.” 
Cao Đài gọi đấy là sứ mạng Đại Thừa Thiên Đạo, hay tự giác, giác tha như Đại Thừa Phật Giáo.
Đức Đông Phương Lão Tổ dạy:
“Sứ mạng của mỗi nguyên căn mang vào mình là ngoài phần vụ tự tu, tự tiến, lại còn phải đem Đạo độ đời để giác ngộ quần linh sớm thức tỉnh hồi đầu cải ác tùng lương, cải tà qui chánh, để lần hồi cải tiến từ bản thân đến xã hội loài người đến tận thiện, tận mỹ. Khi đến thế gian một khoảng thời gian nào đó, hoặc một kiếp hoặc trăm ngàn muôn kiếp, cuối cùng rồi cũng trở lại nguồn xưa là nơi xuất phát từ khối Đại Linh Quang.” 
Đạo gọi đó là phản bổn huờn nguyên. Nhưng muốn phản bổn huờn nguyên, hành giả phải làm sao thoát khỏi cảnh trầm luân đọa lạc nơi cõi trần ai đau khổ này! 
Đại Tiên Ngọc Lịch Nguyệt dạy rằng con người muốn giải thoát cảnh trầm luân đọa lạc, điều trước nhứt là hành giả phải nhận xét chân giả của cuộc đời: “Những gì vật chất hữu hình ảo ảnh phù vân, có tạm mượn cũng chỉ một trăm năm là nhiều rồi hoại diệt, mà có mấy ai đến hàng trăm tuổi! Dầu có chăng nữa thì cũng chỉ là một cụ già lụm cụm, tóc bạc da mồi, chân run tay yếu, sống thừa với thể xác cằn cỗi già nua, trọng nghiệp đeo đẳng dày vò, dầu đông con cháu cũng chỉ một mình mình chịu, một mình mình mang, ngẩn ngơ sớm tối. Đó là chưa kể đến những người mang trọng nghiệp bệnh tật hiểm nghèo, dầu đang ở trong mỏ bạc hầm vàng, họ hàng đông đảo, nhưng so với người cô độc xác xơ, xó chợ gầm cầu, thì nỗi khổ đau về thể xác nào có khác chi đâu?
Đó chỉ luận về nhơn thân, Bần Đạo chưa bàn đến đen trắng, vinh nhục, ấm lạnh
đổi thay của tình đời thế sự. (...) Nếu kiếp con người chỉ có như vậy, hưởng thụ bao nhiêu mà phải bị khổ đau cho đến giờ phút cuối, thì câu “vi nhân nan đắc” (được làm người rất khó) có nghĩa gì đâu. (...) Quả thật vi nhân nan đắc, từ muôn ức kiếp tiến hóa làm người, trong thể xác hữu hạn này còn có một cái sống bất hoại trường tồn, từ muôn ức kiếp đã phải trải qua bao nhiêu đoạn đường ô trược, thay đổi bao nhiêu tánh danh thể xác mà cũng vẫn còn. Chính cái bất hoại đó hiện có ở trong con người “Thiên hạ tối linh.” (...) Chư đệ muội hẳn đã biết cái bất hoại này là cái gì rồi. Đó là Thần Khí, là sự sống, là Tánh Mạng của chư đệ muội đó.” 
Nếu Thần Khí chủ sử rời ra thì cái thân tứ đại do đất nước gió lửa hợp thành này lại trả về cho tứ đại. Nếu hiểu biết như vậy, thì con người phải sớm giác ngộ, để không còn chú trọng bám víu vào thể xác hữu hạn này nữa mà lo chú trọng vào Tánh Mạng, Thần Khí của mình, phải biết tá giả luyện chơn để trở thành Thần, Thánh, Tiên, Phật. Ngài hỏi chúng ta: “Tại sao người không làm được như vậy? Người không làm được vì người còn mê danh lợi phù phiếm bên ngoài mà quên cái tánh mạng bên trong, ôm chầm lấy cái giả, suốt đời nô lệ nó mà không biết trọng dụng nó, trau chuốt nó mà có biết đâu chính ta đã đày đọa ta phải khổ đau trong tấm sơn mài danh vị lợi quyền, miếng ăn chỗ ở cũng vì nó. Có nhận biết rõ như thế, hành giả mới không mê mờ lầm lẫn trọng giả khinh chơn.”
Giả là cái gì hữu hạn sẽ phải bị hủy diệt, chơn là cái gì không bị hoại diệt, nên cần phải gìn giữ trau luyện nó để diệu dụng trường tồn.
 
Đó mới thấy là diệu dụng của Đạo Pháp để tham cầu tu luyện, quả thật Tiên Phật chứng ngộ, Hiền Thánh không lầm vì từ vô lượng kiếp đã có biết bao nhiêu người ngộ Đạo, chứng đắc Phật Tiên mà chúng ta đang chiêm ngưỡng tôn thờ. 
Vậy Đạo Pháp là gì? Là những phương tiện pháp môn giúp hành giả tu luyện để có được một thể xác tráng kiện ít đau bệnh nhờ luyện Thần Khí, Âm Dương điều hòa và có được một tâm linh mẫn tuệ, thanh thản, thư thái, an nhàn, không vương mang phiền não bệnh tật, còn việc tạo Tiên tác Phật thuộc cõi hư linh.
Ơn Trên có dạy:

“Đạo là sức sống thiên nhiên,
Pháp là chiếc Bát Nhã thuyền sang sông.”

Đạo là sức sống thiên nhiên, là cứu cánh giải thoát luân hồi sanh tử cho con người, còn Pháp là chiếc thuyền Bát Nhã, là phương tiện đưa hành giả sang sông, từ bến mê lên bờ giác, qua sông phải bỏ lại bè. Hành giả không nên chấp pháp, vì chúng sanh căn trí vô lượng, tùy theo căn trí mà dẫn độ, cốt yếu là đạt được Đạo, là đắc nhứt, là giải thoát để cuối cùng được về hiệp nhứt với Đại Linh Quang Thượng Đế nơi Bạch Ngọc Kinh hay Niết Bàn.
Việc thứ đến là hành giả phải bồi công lập đức cho dứt khoát nghiệp chướng tiền khiên của mình đã gây ra, để tạo nền móng khả dĩ xây cất được ngôi nhà Đạo Pháp vững vàng để hỗ trợ cho việc công phu tu luyện bớt phần khảo đảo khắc khổ. Đạo như chiếc thuyền, Đức như nước, nước có thì thuyền mới trẩy sang. Phải hội đủ Đạo với Đức hành giả mới tu chứng được.
Cái vốn của công đức là tâm từ huệ, lòng bác ái vị tha dầu lớn dầu nhỏ cũng là công đức. Hành giả đừng ngần ngại giàu nghèo, tùy khả năng mình mà thực hiện đừng từ nan, giúp người một viên thuốc, một chén cơm hay một chiếc áo cũng là làm công đức.  
a. Đại Thừa Phật Giáo (lục độ ba la mật) dạy người làm phước:
1. Không nghĩ mình là người ban ân.
2. Không nghĩ người là người thọ ân mình.
3. Không nghĩ vật ban cho là của bố thí.

b. Giáo lý Cao Đài cũng có dạy làm công quả phải với tinh thần vô ngã, vô danh, vô công, không vụ lợi, làm vì lòng thương người đau khổ, coi đó là cần thiết như cơm ăn thuốc uống, như hơi thở.
Giúp người không kể công, không nêu danh và không nêu lại dấu vết, không cầu báo ân mới thiệt là công đức vô lượng. Điều quan trọng là hành giả phải có tâm Đạo chí thành, có đủ đức tin nơi Đạo Pháp, chấp nhận sự khảo thí vì vô ma khảo bất thành Đại Đạo.Chính Thầy đã cho biết trước lúc mới Khai Đạo năm Bính Dần 1926 (TNHT, tr. 75): “Mở Đạo kỳ Ba này Thầy mở cuộc khảo thí để tuyển chọn những con xứng đáng đưa về Bạch Ngọc Kinh cùng Thầy. Thầy lại tiên tri là Thầy thả một lủ hổ lang ở lộn cùng các con, lại hằng ngày xúi biểu nó cắn xé các con; song Thầy cho các con mặc một bộ thiết giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng, là đạo đức đó các con.”
Nếu không có tâm Đạo chí thành, kiên nhẫn thì sớm muộn gì cũng bán đồ nhi phế (bỏ dở dang, bỏ cuộc giữa đường) thì phải chịu đọa lạc trầm luân nơi cõi trần ai khổ lụy này. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ra đời, Trời mở rộng ân xá kỳ ba, hễ biết giác ngộ, tu nhứt kiếp ngộ nhứt thời, Đức Chí Tôn Thượng Đế đã tuyên bố như vậy.
Tác dụng của Đạo pháp:Nhơn đây chúng tôi cũng xin nhắc lại lời dạy của Ơn Trên mà chính những thiền sinh đã từng chứng nghiệm về tác dụng của Đạo pháp, vì nó không phải là trừu tượng mông lung, dị đoan mê tín, cho người đời ăn bánh vẽ.


Đạo pháp đem lại ba điều lợi ích như sau:

1. Trước nhứt là thần khí được điều hòa, thân tâm được an định. Thần khí, thân tâm được an định thì con người mới được tươi nhuận khỏe mạnh, khỏi bận lo đau ốm mỗi khi thời tiết đổi thay và khỏi tốn kém tiền thuốc men.
Đức Đông Phương Lão Tổ dạy:

“Biết hô hấp còn hơn dụng thuốc,
Vận khí công là nước ma ha;
Nhơn thân ít bệnh lâu già,
Xác thân tươi nhuận, thịt da hồng hào.”

2. Thứ hai là tâm thần được an định, lòng không vọng động tính toan giận hờn chất chứa, nên thấy nhẹ nhàng thanh thản và dễ nhận xét lỗi lầm sai trái mà chừa cải, trí não được mẫn tuệ sáng suốt để dễ dàng giải quyết mọi việc xảy.

3. Thứ ba là có gần gũi thường với Thiêng Liêng bằng phương pháp tịnh tâm, thiền định hành giả sẽ tiếp được điển lành khiến cho lòng từ huệ sẽ khai mở, tánh tình sẽ dịu dàng, tánh sân si bớt lần, khiến lời nói dễ thương, dịu dàng, cảm hóa tha nhân.

Đó là ba điểm chánh yếu thực tiễn mà Đạo Pháp sẽ đem lại cho hành giả khi còn ở thế gian, còn việc thành Tiên tác Phật, khi công đức viên mãn đương nhiên sẽ kết thành quả vị. Xưa nay Phật Tiên, Hiền Thánh chứng quả cũng không ngoài việc đó.
Sau cùng chúng ta hãy đọc lại Thánh giáo của Đức Đông Phương
Lão Tổ dạy về tác phong đạo hạnh của người tu thiền:
“Đã giác ngộ, biết cõi đời là trường tiến hóa của vạn sinh, thì hãy quay về sống Đạo tự hữu, tìm đến huyền môn, bước lên nấc thang đại thừa để học tu giải thoát. Giải thoát những phiền não vây hãm tâm hồn, che lấp chơn tánh, làm con người không trọn phận, không xứng đáng một con người mà nguồn gốc Thiên chân cũng đánh mất. Đã chấp nhận quày chơn trở lại, thời dầu là nấc thang đầu tiên (bậc sơ thiền) hành giả cũng phải thận trọng từ sự sống, ăn, mặc, ở, đủ thiếu giàu nghèo đều phải giữ tiết độ tri túc, an phận tùy duyên, để nội tâm được bình thản. Từ tư tưởng, hành động, ngôn ngữ đều phải khiêm tốn, từ hòa, mà không mất vẻ đoan trang nghiêm chỉnh. Nói tóm lại, đó là tác phong đạo hạnh của hành giả trong đời sống nội tâm và ngoại cảnh để tu tập Tam Công.
Hỡi chư hiền đệ hiền muội!
Trước cuộc đời nhiều lẽ thạnh suy bĩ thới trong thời mạt kiếp này, chư hiền đệ muội cũng phải chịu nhiều thử thách đau khổ, nhưng trong đó cũng chính là đáp số cho mỗi người Thiên ân sứ mạng.
 
Tu là phép chữa bệnh trần,
Thiền là đoạn diệt tham sân dục tình.”