Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011

Vài điều thú vị về dưa leo



VÀI ĐIỀU THÚ VỊ VỀ DƯA LEO

Tài liệu về quả dưa leo này đã được đăng tải trên tờ The New York Times vài tuần trước đây, một tờ báo thường giới thiệu những phương pháp khá sáng tạo và lạ lùng, để giải quyết những vấn đề thông thường.
Sau đây là những khám phá thú vị về quả Dưa leo.
1. SINH TỐ
Dưa leo chứa rất nhiều loại sinh tố mà chúng ta cần mỗi ngày như
các Vitamin B1, B2, B3, B5, B6, Calcium, Iron, Magnesium, Phosphorus, Potassium, and Zinc.
2. GÂY HƯNG PHẤN
Khi cảm thấy mệt mỏi vào buổi trưa, quí vị hãy để qua một bên các loại thức uống có cà phê,
và hãy chọn lấy một quả dưa leo. Dưa leo có các loại Vitamin B, và Carbohydrates, có khả năng làm quí vị hưng phấn trở lại được vài giờ đồng hồ.
3. ĐÁNH BÓNG GƯƠNG KIẾNG
Khi chiếc gương trong phòng tắm bị mờ đi vì hơi nước,
quí vị hãy dùng một lát dưa leo, thoa dọc theo gương, chỉ trong chốc lát, gương sẽ trong lại và tỏa ra một mùi thơm tựa như quí vị đang ở trong phòng tắm hơi.
4. ĐUỔI SÂU BỌ, SÊN ỐC
Khi loài ấu trùng và ốc sên đang hủy hoại những luống cây ngoài vườn nhà,
quí vị hãy đặt vài lát dưa leo vào trong một lon đồ hộp nhỏ, vườn của quí vị sẽ không còn những loài sâu hay ốc sên phá hoại trong suốt vài tháng trời.
Lý do là vì những hóa chất trong dưa leo phản ứng với chất nhôm của lon đồ hộp, sẽ tỏa ra một mùi hương mà con người không thể cảm nhận được, nhưng lại khiến cho các loài côn trùng khiếp sợ và bỏ chạy khỏi vườn.
5. LOẠI BỚT TẾ BÀO MỠ
Quí vị đang muốn tìm một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất để loại trừ những tế bào mỡ trên da (cellulite) trước khi vào hay bước ra khỏi hồ tắm? Hãy thoa một hay hai lát dưa leo trên những vùng da quí vị muốn. Các hóa chất thực vật sẽ khiến cho lớp collagen trên da trở nên săn chắc và do đó, khiến cho cellulite trên da khó nhìn thấy. Cách này cũng tác dụng rất tốt trên các nếp nhăn nữa.
6. GIÃ RƯỢU
Quí vị muốn tránh cảm giác choáng váng hay nhức đầu dữ dội sau khi uống rượu chăng? Hãy ăn vài lát dưa leo trước khi đi ngủ. Khi thức dậy, quí vị sẽ thấy tỉnh táo và hết nhức đầu. Dưa leo chứa một lượng đường vừa đủ, các loại vitamin B, và các chất điện giải để tái bổ sung những tinh chất sinh tố cần thiết mà cơ thể đã bị mất đi, hầu tái lập sự cân bằng, xua tan cảm giác choáng váng hay nhức đầu.
7. CHỐNG ĐÓI
Quí vị muốn tránh một bữa ăn trưa, hay ăn tối thịnh soạn chăng? Dưa leo đã được dùng hàng thế kỷ nay, ngay cả bởi những người giăng bẫy thú rừng, các nhà buôn, các nhà khai phá Âu châu khi muốn có một bữa ăn nhanh,
họ đã ăn dưa leo để không còn cảm giác đói bụng nữa.
8. ĐÁNH BÓNG GIÀY
Quí vị sắp có một cuộc họp quan trọng, hay một cuộc phỏng vấn tìm việc làm, nhưng lại không đủ thời gian để đánh bóng đôi giày của mình.
Hãy thoa một lát dưa leo tươi lên giày, hóa chất của dưa leo sẽ khiến giày bóng lên, tuy không thật hoàn hảo nhưng cũng có tác dụng chống thấm nước.
9. GIÃ RỈ SÉT
Trong nhà quí vị không có loại dầu chống rỉ sét WD 40, nhưng lại đang cần loại trừ tiếng kẽo kẹt từ bản lề của cửa ra vào.
Hãy dùng một lát dưa leo chùi chung quanh bản lề đó, cửa sẽ không còn tiếng kẽo kẹt nữa.
10. GIẢM STRESS
Quá căng thẳng nhưng lại không có thời gian để massage hay ghé vào spa,
quí vị hãy cắt hết một quả dưa leo, cho vào một bình nước sôi, rồi hé mở nắp đậy, để cho hơi nóng thoát ra ngoài. Các hóa chất và dưỡng chất từ dưa leo sẽ tác dụng với nước sôi và tỏa ra một làn hương làm dịu đi sự căng thẳng, và tạo ra một cảm giác rất thoải mái.
11. LÀM THƠM HƠI MIỆNG
Quí vị vừa xong một bữa ăn trưa với các đồng nghiệp, và chợt nhớ mình không có chewing gum hay kẹo the.
Hãy cắt một lát dưa leo, rồi đặt sát vòm miệng trên chỉ độ 30 giây thôi, hơi thở sẽ thơm tho như ý muốn, vì các hóa chất thực vật của dưa leo sẽ tiêu diệt các loại vi trùng, vốn là nguyên nhân gây nên bệnh hôi miệng.
12. LAU CHÙI ĐỒ DÙNG KIM LOẠI
Quí vị muốn lau chùi muỗng nỉa, sinks, hay các đồ dùng kim loại không rỉ sét?
Hãy dùng một lát dưa leo lau chùi các vật dụng trên, không chỉ làm mất đi những vết lu mờ lâu năm và làm sáng bóng trở lại, mà còn không để lại các vết sọc, và cũng không làm hư hại ngón tay cũng như móng tay của quí vị vì việc lau chùi nữa.
13. TẨY VẾT MỰC
Quí vị đang viết bút mực và bị lỗi khi viết.
Hãy lấy lớp vỏ dưa leo, và nhẹ nhàng tẩy vết mực muốn tẩy. Cũng rất công hiệu khi tẩy vết bút chì, và những vết mực màu trang trí mà các trẻ em vẽ lung tung trên tường.
Đây là những phương cách hiệu quả và an toàn, giải quyết được những vấn đề hàng ngày. Quí vị hãy áp dụng và giới thiệu cho những người quen biết của mình nhé.
Thụy Trinh sưu tầm.
Nguồn: blog anhvutran1963


Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2011

Lễ Sanh với sứ mạng khai đàn


LỄ SANH VỚI SỨ MẠNG KHAI ĐÀN

Ngày 14 tháng 5 Bính Dần, những tín hữu Cao Đài đầu tiên được Đức Chí Tôn ban phong phẩm vị Lễ Sanh, theo lời kể của bà Đầu Sư Hương Hiếu trong Đạo Sử Xây Bàn quyển 1 gồm quý ông:
“Thầy phong 4 vị Lễ Sanh: Anh Chín Giảng. Anh Phán Giỏi, Anh Đốc Bản, anh Ký Tường. Bốn anh trên đây sau thăng Giáo Hữu. Tôi may bốn bộ sắc phục Lễ Sanh…” [1]
Đến rạng sáng ngày 16 tháng 10 Bính Dần, Đức Chí Tôn ban cho Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài Nam phái. Trong đó, phần phẩm Lễ Sanh đã được qui định như sau:
“Lễ Sanh là người có hạnh, lựa chọn trong chư môn đệ mà hành lễ. Chúng nó đặng quyền đi Khai Đàn [2] cho mỗi tín đồ … … Như vào đặng hàng Lễ Sanh mới mong bước qua hàng chức sắc, kỳ dư Thầy phong thưởng riêng mới đi khỏi ngả ấy mà thôi … … nghe à. Chư môn đệ tuân mạng.”
Đức Trần Hưng Đạo khi giáng đàn ở Thánh thất Từ Quang vào năm Bính Thân (1956) đã dạy:
“Lễ Sanh tùy theo công việc mà phân cắt. Nên số cầu phong phải lựa chọn bằng tài có đức, hoặc bằng đức có tài, hay tài đức phải tương đương. Những vị Lễ sanh từ xưa nay có công thì được thăng quyền tấn tước, cười ... nghĩa là lên 01 hay nửa phẩm; còn vị nào được điều động với tính cách nhu cầu phải cầu thăng ban quyền pháp để đủ mà hành Đạo.
Nhưng phải biết chắc Lễ sanh bây giờ không phải dễ, người có trách nhiệm là người có quyền pháp trọng yếu.
Ai muốn lên Lễ sanh, bất cứ hàng phẩm giá trị hơn kém ở ngoài đều phải đi qua nấc thang Chánh Phó Trị sự rồi mới được lên Lễ sanh; dù người ấy có đức có tài, có uy năng công cán cũng vậy; trừ ra, được Thầy ban ơn.” [3]
Để có năng lực hầu hoàn thành nhiệm vụ của mình, các Lễ Sanh cần thiết phải trải qua một thời gian hành đạo ở phẩm Chức Việc để có cơ hội bồi công lập đức và kinh nghiệm hành đạo. Về việc này, Đức Bạch Liên Tiên Trưởng có dạy thêm cho rõ hơn:
“… Chánh, Phó Trị Sự và Thông Sự để gắn bó đi sát với nhân sanh hầu an ủi, chăm nom dìu dẫn dạy bảo họ trên đường tu học và bảo vệ họ trong mọi hoàn cảnh như quan, hôn, tang, tế, hoặc những khi thiên tai chiến họa.” [4]
Như thế, ngoại trừ trường hợp được Đức Chí Tôn ban ân, tất cả mọi tín đồ đều phải ý thức rằng phẩm vị Lễ Sanh chỉ thật sự có giá trị đối với Thiêng Liêng một khi được thực hiện đúng theo Pháp Chánh Truyền và Tân Luật.
Nghĩa là buộc người Lễ Sanh phải đã có công trạng tu học và hành đạo ở vị trí Chức Việc (Chánh, Phó Trị sự và Thông sự)!
Khi Thiên phong lần thứ nhứt cho Nữ phái vào đêm 14 tháng giêng Đinh Mão (1927), đã có tất cả 56 vị nữ được Đức Chí Tôn chấm vào hàng Lễ Sanh. [5]
Năm 1927, một lần khi ban phong thêm Lễ Sanh, Thầy dạy:
“Trang bạch: Chư Nữ tín đồ chưa nhập tịch Thánh.
- Thầy lấy từ bi cho chức Lễ Sanh cả thảy.
-  Phải gắng cho xong phận sự, bằng không thì tội sẽ định bằng hai cho những kẻ không trọn lòng thành kỉnh về đạo đức nghe.” [6]
Ngay từ tháng Giêng năm Đinh Mão 1927, khi giáng đàn Đức Lý Giáo Tông đã dạy:
"Mừng chư đạo hữu, chư đạo muội, chư chúng sanh. Đại hỷ, đại hỷ! Lão đã nói: Đạo đã lập thành. Vậy cây có chơn chánh đã vững gốc đáng làm biểu hiệu cho cả chúng sanh dòm thấy đó mà đến nơi Bạch Ngọc Kinh. Nghĩ mà mừng, mà hễ mừng thì lại càng thêm giận lẫn vào trong. Nhiều vị đạo hữu đã lãnh chức mà chơi, chứ chưa hề hành đạo (...)
Thượng Trung Nhựt! Lão đã nói, mà Thầy cũng đã nói trước rằng khi thành đạo, nghĩa là khi Tân Luật phát hành, thì trong hàng môn đệ may lắm chỉ còn nửa phần. Trong đám Thiên phong, nhiều kẻ e còn bị trục xuất thay!
Thầy vì lòng từ bi can gián Lão, bằng chẳng Lão đã dùng hình phạt mà răn kẻ giả dối ấy."
Đã có một áp lực tinh thần rất lớn về phần trách nhiệm ở vị trí của mình với chư vị từ cấp Lễ Sanh trở lên!
Như thế hàng Lễ Sanh phải chăm lo phận sự “Khai đàn Thượng tượng” cho những tín hữu mới. Muốn hoàn thành nhiệm vụ, người Lễ Sanh phải nắm vững một số vấn đề giáo lý căn bản để có thể hướng dẫn chư tín đồ. Sau đây là gợi ý những đề tài cần thiết cho Hạnh Đường cấp 1 của Lễ Sanh:
- Nghi thức thờ phượng tại tư gia đạo hữu: nguồn gốc lịch sử thiết lập Thiên bàn xuất phát từ đâu; việc lựa chọn vị trí đặt Thiên bàn sao cho trang trọng hợp lý với bàn thờ tổ tiên hầu thể hiện lòng kỉnh thành với Thầy; phương cách sắp đặt bàn thờ cùng các lễ phẩm.
- Kinh tụng Tứ Thời và Nghi thức lễ bái Đức Chí Tôn cùng các Đấng Thiêng Liêng.
- Nhắc nhớ nhiệm vụ của người tín đồ theo qui định của Tân Luật: ít nhất mỗi tháng 2 ngày sóc vọng phải về Thánh thất hành lễ và học đạo. Ngoài ra, cố gắng bồi công lập đức thêm qua những đạo sự về Quan, Hôn, Tang tế.
- Hướng dẫn về Trai kỳ, Ngũ Giới Cấm và một số điều Tân Luật buộc mỗi tín đồ Cao Đài phải thi hành.
- Quan niệm về Chánh tín theo đạo Cao Đài là thế nào?
- Ngoài ra người tín hữu mới cũng cần phải được trang bị thêm một số hiểu biết về những đề tài giáo lý căn bản của Cao Đài giáo.
Để có thể hướng dẫn được những điểm căn bản nêu trên đòi hỏi hàng ngũ Lễ Sanh phải được trang bị thêm những hiểu biết về Tân Pháp Tam Công hầu gương mẫu thực hành để chư tín hữu noi theo.
Về phương diện hành chánh đạo, hàng Lễ Sanh có thể được tín nhiệm ở vị trí cấp bậc nào?
Có đoạn Thánh giáo dạy về vấn đề này của Đức Bạch Liên Tiên Trưởng – Phan Thanh:
“Quan niệm về chức sắc tại một Thánh Thất.
Nơi Tân Pháp đã có qui định: Một chức sắc tại một Thánh Thất chỉ cần và có ở hàng Giáo Phẩm tới cấp bực Lễ Sanh là đủ rồi.” [7]
Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu đạo sự nên nhiều vị Lễ Sanh được giao nhiệm vụ Trưởng Ban Cai Quản của Thánh thất [8].
Nếu Thánh thất thể hiện được đúng mức vai trò nhiệm vụ của mình như lời dạy của Ơn Trên là một Trường Giáo Đạo, để làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng, vị Trưởng Ban Cai Quản mặc nhiên có vị thế của một Hiệu Trưởng tại mỗi Thánh thất.
Việc phổ huấn đơn giản nhất có thể làm trong tầm tay là tổ chức thuyết minh giáo lý trong các kỳ lễ lớn trong năm, sau tiến đến thuyết minh hàng tháng trước khi đạt đến mục tiêu tổ chức được cho cả 2 kỳ đàn sóc vọng hàng tháng.
Một điểm khác có ghi trong Tân Luật, Điều thứ chín nơi Chương Người Giữ Đạo:
“Muốn xin nhập môn phải có hai người đạo đức tiến dẫn đến người làm đầu trong Họ. Hai người tiến dẫn phải lo lắng chỉ biểu và dìu dắt người mới cho biết đạo lý.”
Như vậy vị Lễ Sanh ở Thánh thất có trách nhiệm nhắc nhở khuyến khích đạo hữu hãy cố gắng thực hiện nhiệm vụ của mình mỗi khi tiến dẫn người mới nhập môn. Cần hướng dẫn cho người đạo hữu mới những khái niệm căn bản về giáo lý từ hình thức lễ bái cho đến nghĩa vụ của người tín đồ, quan niệm tôn trọng các xu hướng tín ngưỡng, v.v... Vị Lễ Sanh vừa phải có tri thức về giáo lý vừa phải có khả năng tổ chức điều hành và theo dõi đốc thúc để các tín hữu nơi Họ Đạo của mình hành tròn nhiệm vụ Thiêng Liêng.
Do chức trách của vị trí trước nhân sanh, các Lễ Sanh phải chứng đàn những buổi cúng Thượng tượng, Cầu siêu, Cầu giải bệnh, v.v… Để có đủ uy tín với nhơn sanh và chứng minh sự thành kỉnh trách vụ trước các Đấng Thiêng Liêng cho nên phần lớn các Hội Thánh đều qui định muốn bước vào hàng ngũ Lễ Sanh phải trường chay mặc dầu Tân Luật chưa buộc như thế:
“… bực đã giữ trường trai, giới sát và Tứ Đại Điều Qui gọi là vào phẩm Thượng thừa … Chức sắc cai trị trong đạo từ bực Giáo Hữu sắp lên phải chọn trong bực Thượng Thừa mà thôi.”
Đây là mặt tiến bộ đáng mừng vì qui định này đã giúp nâng cao phẩm hạnh của chức phẩm Lễ Sanh đối với đạo hữu và với chính quyền các cấp.
Lễ Sanh là vị trí cuối cùng được Đức Chí Tôn chánh thức nêu lên khi ban cho Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài, ở hàng thứ 7 nếu từ trên đếm xuống [9]. Đây là phẩm vị Thiêng Liêng cao quý để chư vị chuẩn bị bước lên hàng chức sắc Thượng Thừa. Từ phẩm Lễ Sanh này mới bắt đầu được phân vào ba phái tượng trưng cho Tam Giáo Đạo là phái Thái, phái Thượng, phái Ngọc với Đại phục có màu theo phái và được mang Tịch Đạo theo phái. Vì thế nên Lễ Sanh mới được xem là “chuẩn chức sắc” tuy về số lượng không có hạn chế.
Để tăng thêm về ý thức trách nhiệm cho hàng ngũ Lễ Sanh, trong khóa Hạnh Đường lần thứ nhứt của Hội Thánh Tiên Thiên được tổ chức tại Tòa Thánh Châu Minh vào năm Bính Ngọ (1966) nhắm vào việc bồi dưỡng cho chư vị chuẩn chức sắc, Đức Giáo Tông Tiên Thiên – Thiện Pháp Nguyễn Bửu Tài đã giáng đàn dạy:
“Thể theo nguyện vọng chánh đáng của nhơn sanh xin đàn cơ trong ngày bế giảng khóa Lễ Sanh lần thứ nhứt được Giáo Hội Tiên Thiên và sự chuẩn phê Tam Giáo Tòa nên Bần Đạo giáng đàn phân định.
Giáo Hội tuân lịnh khai giảng ba lớp Hạnh Đường cho ba phẩm Chức Sắc tu học với đề tài soạn thảo rất đúng Thánh ý và đúng căn bản Đạo trong hai phần: Về cơ lập giáo độ đời và sự tu thân hành đạo.
Trên sự giảng giải được linh động để cho mỗi Lễ Sanh biết nhiệm vụ thực hành đúng, hầu bảo vệ phẩm vị thiêng liêng, để sang lên hàng Giáo Hữu. Song Pháp Chánh Truyền cũng phân giải về nhiệm vụ mà thôi chớ không vạch sâu thực tế hai chữ Lễ Sanh hay lớp học Lễ Sanh. Vậy chư hiền có hiểu hai chữ Lễ Sanh chăng ?
Lễ Sanh, Thầy đã nói là chọn trong hàng hạnh kiểm nhứt, lễ độ khiêm cung nhứt để hầu Thầy thì Lễ Sanh là nguồn gốc bởi lễ mà sanh ra mọi hình thức tốt đẹp. Như có lễ mới sanh ra sự hòa ái thương yêu, đối nhân xử thế và bảo vệ được phẩm giá của người Chức Sắc hành đạo hướng dẫn nhơn sanh, giữ vẹn Thiên điều, hòa thành phẩm tước thiêng liêng vị. Và trên thượng hòa, dưới hạ mục; đối nội ôn lương, đối ngoại tình cảm. Đối với gia đình trọng tình thân, hiếu, thuận, nghĩa, trinh. Đối với xã hội thì phong hóa xương minh an bình trật tự.
Như vậy Lễ Sanh, Đạo Thầy định làm đầu trong hàng Chức Sắc, nếu hạnh Lễ Sanh không hoàn mỹ thì hàng Chức Sắc lấy đâu mà nương tựa tiến được. Như thế chư hiền các cấp Đạo có nhận Lễ Sanh là quan trọng không? Bần Đạo rất tiếc một số được Ơn Trên ban phong mà không giữ để vật dục đeo đai thành ra nhiệm vụ không được tiến hóa.” [10]
Như đã trình bày, Lễ Sanh là chuẩn chức sắc vì thế mỗi khi tham dự Hạnh Đường cần được bồi dưỡng thêm lý thuyết về đức hạnh và trách nhiệm của hàng Giáo Hữu để sau này có thể cầu phong tiến đạo. Về phần đức hạnh, Tứ Đại Điều Qui là một nội dung không thể thiếu trong Khóa Hạnh Đường bậc 2 của hàng Lễ Sanh.
Qua lời trình bày của Đức Thiện Pháp - Giáo Tông Tiên Thiên dạy cho Lễ Sanh, chúng ta thấy những nội dung của Tứ Đại Điều Qui hiện ra như:
“Phải tuân lời dạy của bề trên, chẳng hổ, chịu cho bực thấp hơn điều độ. Lấy lễ hòa người.” hay “Đối với trên dưới đừng lờn dễ, trên dạy dưới lấy lễ, dưới giáng trên đừng thất khiêm cung.” phải chăng đây là ý nghĩa của lời dạy: “… trên thượng, hòa dưới, hạ mục.”
Hoặc “Pháp luật phải tuân. Đừng lấy ý riêng mà trái trên dễ dưới. Đừng cậy quyền mà yểm tài người.” là ý nghĩa như lời dạy: “Đối nội ôn lương, đối ngoại tình cảm” hay “Đối với xã hội thì phong hóa xương minh an bình trật tự.”
Tóm lại với sứ mạng được Thầy ban trao theo Pháp Chánh Truyền, người Lễ Sanh vinh dự được nhận lấy sự yêu mến của Đức Chí Tôn “Lễ Sanh là người Thầy yêu mến.” cùng phần trách nhiệm với nhơn sanh: “Phải gắng cho xong phận sự, bằng không thì tội sẽ định bằng hai cho những kẻ không trọn lòng thành kỉnh về đạo đức nghe.” [11]
Để giúp cho các Lễ Sanh có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ, mỗi Hội Thánh cần thiết kế chương trình huấn luyện Hạnh Đường tối thiểu phải trải qua hai cấp:
Ở cấp một, Khai đàn Thượng tượng là nhiệm vụ căn bản của mỗi Lễ Sanh. Đi kèm việc thực hành nghi lễ này, Lễ Sanh cần phải được trang bị kiến thức sư phạm về giảng dạy để có thể phụ giúp vị Giáo Hữu nơi địa phận của mình giáo hóa nhơn sanh về những nhiệm vụ căn bản của người tín hữu Cao Đài.
Ở cấp hai, các Lễ Sanh được bồi dưỡng chuẩn bị để bước sang hàng ngũ Giáo Hữu. Đến giai đoạn này, các Lễ Sanh cần phải bước vào học và hành phần công phu ở cấp sơ khởi.
Trên đường bồi công lập đức phổ độ sanh chúng, Tứ Đại Điều Qui là phần trọng tâm của chương trình huấn luyện đức hạnh nền tảng của Lễ Sanh, là tấm gương để tín chúng noi dấu. Bên cạnh việc rèn luyện công trình đó đồng thời mỗi Lễ Sanh cũng cần bắt đầu được nâng cao trình độ học hiểu của mình về Đạo Sử Khai Đạo và Thánh Ngôn Hiệp Tuyển ở mức trung bình và đặc biệt cần trang bị năng lực tổ chức điều hành Hành Chánh Đạo của Họ Đạo. Trong đó không thể thiếu phần trọng tâm về kỷ thuật quản lý giáo dục Trường Giáo Đạo của Thánh thất để người Lễ Sanh có thể vượt qua kỳ khảo hạch chuyển cấp lên hàng Giáo Hữu.
Năm 1958, Đức Lý Giáo Tông trong một đợt xét duyệt danh sách cầu phong Lễ Sanh thăng lên Giáo Hữu tại Tòa Thánh Tây Ninh, Ngài đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ Chức Sắc ở bậc này là thay Thầy đặng phổ thông Chơn Đạo vì thế cần phải có “khả năng giáo hóa nhơn sanh”:
“Hôm nay, chư hiền hữu Hiệp Thiên hiệp tâm cầu thăng cho Chức sắc Cửu Trùng, Lão cũng nhận sự thăng thưởng là một dịp khuyến khích cho những kẻ hữu công. Nếu Chức sắc thăng thật xứng đáng thì Lão lấy làm vui trao cho những vị ấy Thiên tước của Đức Chí Tôn đặng giúp cho họ trên đường lập vị.
Nhưng còn lắm phần ham ngôi phẩm mà phục vụ cho Đại Từ Phụ thì tiếc từ chút công, so đo từ giờ từ khắc, thì Lão rất buồn và lo giùm cho cứu cánh kiếp sanh của họ.
Về việc ban thưởng Chức sắc không phải có 5 năm thâm niên sắp lên là đủ điều kiện cầu thăng và được thăng, cần phải có những điều kiện cần yếu khác:
   Thứ nhứt:    Phương diện hạnh đức.
   Thứ nhì:      Trình độ học thức.
   Thứ ba:       Tinh thần phục vụ.
   Thứ tư:        Khả năng giáo hóa nhơn sanh.
Là vì hễ đến bực Giáo Hữu là thay mặt cho Chí Tôn đặng phổ thông Chơn Đạo thì chẳng phải người thường tình đặng, mà phải đáng mặt phi thường mới xứng.” [12]
Khi đã có đủ các điều kiện đó, người Lễ Sanh đã ở tư thế sẵn sàng có đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ mà Đức Chí Tôn đã ân ban cho hàng Giáo Hữu và chỉ còn chờ công quả phổ độ đầy đủ để được các bạn đồng cấp tín nhiệm [13] đã có đủ tâm hạnh đức tài hầu chính thức bước lên hàng ngũ chức sắc, xứng đáng với vị trí đã được định lượng theo Thiên điều là một trong “Tam thiên đồ đệ” của Đức Chí Tôn.
Lễ Sanh học chơn truyền giáo lý,
Lễ Sanh hành chánh kỷ hóa nhân;
Lễ Sanh hạnh kiểm nhiều hơn,
Hơn người mới đáng làm gương cho người.
Lễ Sanh đã rõ lời giáo huấn,
Lễ Sanh là được chuẩn bị lên;
Lên hàng Chức Sắc cấp trên,
Trước trọn lễ nghĩa sau nên phẩm mình.[14]
Chương trình hạnh đường cho hàng Lễ Sanh đương nhiên cũng được dùng để đào tạo chức phẩm Hiệp Thiên Đài tương ứng.
“Đại Đức Huyền Quang, …
Chơn Thánh chào Thiên mạng Giáo Hội, chào Chức Sắc Họ Đạo Tỉnh, chào chư liệt vị Thiên Thần nam nữ đàn tiền. Chơn Thánh rất mừng khóa Lễ Sanh nầy được kết quả dồi dào về tinh thần thụ huấn thấm nhuần giáo lý Tiên Thiên.” [15]
Về mặt vô vi, người Lễ Sanh có phẩm vị tương ứng với phẩm Thiên Thần hay Thượng Đẳng Thần. Vì thế hàng Lễ Sanh phải ý thức trách nhiệm của bản thân để cố gắng làm tốt nghĩa vụ của mình hầu chuyển bước nâng lên vào hàng Thánh vị.
Mỗi Họ Đạo theo luật định phải có tối thiểu 500 tín hữu, tương đương như một trường học có từ 10 cho đến 15 lớp học. Vị Lễ Sanh phụ trách Phổ Huấn, bên cạnh tâm hạnh đức thì phần khả năng sư phạm giáo lý là điều cần phải luôn nỗ lực học hỏi trong quá trình thực hành. Nếu như Thánh thất có khả năng tổ chức giáo huấn cho tất cả các lứa tuổi từ nhi đồng đến thiếu niên, thanh niên và đạo hữu thì đây là lãnh vực đạo sự rất nặng nề. Khi đó vấn đề liên kết với các Thánh thất bạn trong phạm vi không gian hợp lý là điều phải được nghĩ đến để có sự hỗ trợ lẫn nhau qua đó học hỏi kinh nghiệm đồng thời giúp cho học viên tránh được cảm giác đơn điệu khi mãi chỉ được hướng dẫn bởi vài anh chị tại địa phương.
Lễ Sanh là Đầu Họ Đạo hay Trưởng Ban Cai Quản của mỗi Thánh sở cần ý thức lấy chỉ tiêu Đức Lý Giáo Tông đã định hướng “Mỗi Thánh thất là một trường giáo đạo” để làm mục tiêu phấn đấu trên đường Hoằng Khai Đại Đạo và Phổ Độ Nhơn sanh. Năng lực giáo hóa là một điều kiện căn bản trong những điều kiện để Lễ sanh có thể bước lên hàng chức sắc.
Lúc nầy, vai trò của vị Chức Sắc Giáo Hữu đại diện của Hội Thánh tại địa phương trở nên hết sức cần thiết trong (việc) chỉ đạo định hướng hợp tác, liên kết hỗ trợ lẫn nhau. Có làm được như thế chư vị Chức sắc mới có thể hoàn thành nhiệm vụ trọng đại mà Ơn Trên đã đặt để và nhơn sanh đang trông cậy.
Tháng 11 Kỷ Sửu 2009
Đạt Tường

----------------------------------------------------------
[1] Ông Lê Văn Giảng, thư ký kế toán, Sài Gòn
  Ông Huỳnh Văn Giỏi, thông phán sở Tân Đáo Sài Gòn
  Ông Đoàn Văn Bản, Đốc học. Nhà là đàn Cầu Kho, sau là Tt Cầu Kho.
  Ông Võ Văn Tường, người đã dùng nhà mình ở quận 1 Sài Gòn làm nơi soạn văn bản Khai Tịch Đạo.
   Cả 4 ông đều được Đức Chí Tôn gõ cơ điểm danh đứng trong danh sách 28 vị đại diện 245 tín hữu Cao Đài đến gặp Thống Đốc Nam Kỳ ông Le Fol để Khai Tịch Đạo (đăng ký Pháp nhân Hoạt động tôn giáo của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ).
[2] Lễ Thượng tượng, lập Thiên bàn tại nhà người tín đồ Cao Đài.
[3] Thánh Truyền Trung Hưng 2, Thánh thất Từ Quang, 10.01 ĐĐ 31 Bính Thân (21.02.1956) Đức Thánh Trần Hưng Đạo
[4] Đức Phan Thanh - Bạch Liên Tiên Trưởng, Tt Liên Hoa Cửu Cung 01.11 Đinh Mùi (1967)
[5] Đạo Sử Xây Bàn 2
[6] Thánh Ngôn Sưu Tập 1 số 77, Long Thành 01.7 Đinh Mão (29.7.1927)
[7] Đức Phan Thanh, Tt Liên Hoa Cửu Cung 01.11 Đinh Mùi (1967)
[8] Theo hệ thống hành chánh đạo khi xưa, mỗi Thánh thất có 2 vị trí quan trọng: Vị Đầu Họ Đạo hướng dẫn phần tâm linh còn Chánh Hội Trưởng lo việc hành chánh.
[9] Hai vị trí còn lại trong cửu phẩm là Chức Việc (Chánh Phó Trị sự, Thông sự) và Tín đồ do Đức Lý Giáo Tông bổ sung sau đó.
[10] Ngày 30.02 ĐĐ41 Bính Ngọ (1966), Tòa Thánh Minh Đức
[11] Thánh Ngôn Sưu Tập 1 số 77, Long Thành 01.7 Đinh Mão (29.7.1927)
[12] Đức Lý Giáo Tông, Tòa Thánh Tây Ninh (09.4.1958)
[13] “Lễ Sanh muốn lên Giáo Hữu thì nhờ cả Lễ Sanh xúm nhau công cử” (Tân Luật)
[14] Tòa Thánh Tiên Thiên Minh Đức, 30.02 ĐĐ41 Bính Ngọ (1966)
[15] Tòa Thánh Tiên Thiên Minh Đức 30.02 ĐĐ 41 Bính Ngọ (1966)

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2011

Giá trị của một bức tranh



GIÁ TRỊ CỦA MỘT BỨC TRANH

Có một người đàn ông yêu thích mỹ thuật. Ông ta say mê đến mức gần như sống vì niềm say mê của mình. Sưu tập tranh là mục tiêu cả đời của ông.
Ông làm việc rất chăm chỉ để dành tiền tiết kiệm nhằm mua thêm các tác phẩm hội họa cho bộ sưu tập của mình. Ông mua rất nhiều tác phẩm của các họa sỹ nổi tiếng.
Người đàn ông này đã góa vợ. Ông chỉ có một người con trai. Ông đã truyền lại cho con mình niềm say mê sưu tầm đó. Ông rất tự hào về con trai của mình khi anh ta cũng trở thành một nhà sưu tầm nổi tiếng như ông.
Một thời gian sau, đất nước bỗng có chiến tranh. Người con trai, cũng như mọi thanh niên khác, lên đường tòng quân. Và sau một thời gian thì câu chuyện xảy ra...
Một hôm, người cha nhận được một lá thư thông báo rằng người con đã mất tích khi đang làm nhiệm vụ. Người cha đau khổ đến tột cùng. Thật là khủng khiếp khi người cha không thể biết được điều gì đang xảy ra với con mình.
Vài tuần sau ông nhận được một lá thư nữa. Lá thư này báo với ông rằng con ông đã hy sinh khi làm nhiệm vụ. Ông gần như chết đi một nửa người.
Thật khó khăn khi đọc tiếp lá thư đó, nhưng ông vẫn cố. Trong thư, người ta báo rằng con ông đã rút lui đến nơi an toàn. Nhưng thấy trên bãi chiến trường vẫn còn những đồng đội bị thương, con ông đã quay lại và đưa về từng thương binh một. Cho đến khi đưa người cuối cùng về gần đến khu vực an toàn thì con ông đã trúng đạn và hy sinh.
Một tháng sau, đến ngày Noel, ông không muốn ra khỏi nhà. Ông không thể hình dung được một Noel mà thiếu con trai mình bên cạnh. Ông đang ở trong nhà thì có tiếng chuông gọi cửa. Đứng trước cửa nhà là một chàng trai tay cầm một bọc lớn.
Chàng trai nói:
"Thưa bác, bác không biết cháu, nhưng cháu là người mà con bác đã cứu trước khi hy sinh. Cháu không giàu có, nên cháu không biết đem đến cái gì để đền đáp cho điều mà con bác đã làm cho cháu. Cháu được anh ấy kể lại rằng bác thích sưu tầm tranh, bởi vậy dù cháu không phải là một họa sỹ, cháu cũng vẽ một bức chân dung con trai bác để tặng cho bác. Cháu mong bác nhận cho cháu."
Người cha đem bức tranh vào nhà, mở ra. Tháo bức tranh giá trị nhất ông vẫn thường treo trên lò sưởi xuống, ông thay vào đó là bức chân dung người con. Nước mắt lưng tròng, ông nói với chàng trai: "Đây là bức tranh giá trị nhất mà ta có được. Nó có giá trị hơn tất cả các tranh mà ta có trong căn nhà này."
Chàng trai ở lại với người cha qua Noel đó rồi hai người chia tay. Sau vài năm, người cha bị bệnh nặng. Tin tức về việc ông qua đời lan truyền đi rất xa. Mọi người đều muốn tham gia vào cuộc bán đấu giá những tác phẩm nghệ thuật mà người cha đã sưu tầm được qua thời gian. Cuối cùng thì buổi bán đấu giá cũng được công bố vào ngày Noel năm đó. Các nhà sưu tầm và những nhà đại diện cho các viện bảo tàng đều háo hức muốn mua các tác phẩm nổi tiếng. Tòa nhà bán đấu giá đầy người. Người điều khiển đứng lên
và nói:
"Tôi xin cám ơn mọi người đã đến đông đủ như vậy. Bức tranh đầu tiên sẽ là bức chân dung này..."
Có người la lên: "Đó chỉ là chân dung đứa con trai ông cụ thôi! Sao chúng ta không bỏ qua nó, và bắt đầu bằng những bức có giá trị thật sự?"
Người điều khiển nói: "Chúng ta sẽ bắt đầu bằng bức này trước!"
Người điều khiển bắt đầu: "Ai sẽ mua với giá $100?"
Không ai trả lời nên ông ta lại tiếp: "Ai sẽ mua với giá $50?"
Cũng không có ai trả lời nên ông ta lại hỏi: "Có ai mua với giá $40?"
Cũng không ai muốn mua. Người điều khiển lại hỏi: "Không ai muốn trả giá cho bức tranh này sao?" Một người đàn ông già đứng lên:
"Anh có thể bán với giá $10 được không? Anh thấy đấy, $10 là tất cả những gì tôi có. Tôi là hàng xóm của ông cụ và tôi biết thằng bé đó. Tôi đã thấy thằng bé lớn lên và tôi thật sự yêu quý nó. Tôi rất muốn có bức tranh đó. Vậy anh có đồng ý không?"
Người điều khiển nói: "$10 lần thứ nhất, lần thứ nhì, bán!".
Tiếng ồn ào vui mừng nổi lên và mọi người nói với nhau: "Chúng ta có thể bắt đầu thật sự được rồi!"
Người điều khiển nói: "Xin cảm ơn mọi người đã đến. Thật là vinh hạnh khi có mặt những vị khách quý ở đây. Bữa nay chúng ta sẽ dừng tại đây!"
Đám đông nổi giận: "Anh nói là hết đấu giá? Anh vẫn chưa đấu giá toàn bộ các tác phẩm nổi tiếng kia mà?"
Người điều khiển nói: "Tôi xin lỗi nhưng buổi bán đấu giá đã chấm dứt. Mọi người hãy xem chúc thư của ông cụ đây, NGƯỜI NÀO LẤY BỨC CHÂN DUNG CON TÔI SẼ ĐƯỢC TẤT CẢ CÁC BỨC TRANH CÒN LẠI! Và đó là lời cuối cùng!”
Nguồn: nghethuatsong.net


Thứ Ba, 12 tháng 4, 2011

Bài học về sự đánh giá


 Bài học về sự đánh giá

Ngày xưa, có một họa sĩ tên là Ranga, một người siêu việt, vẽ được rất nhiều kiệt tác đáng ghi nhớ khiến ai cũng đều khen ngợi.
Ông mở một lớp học mỹ thuật để dạy nghề cho mọi người và cũng để tìm đệ tử nối nghiệp. Ông không mấy khi khen ngợi ai, cũng không bao giờ đề cập đến thời gian của khóa học. Ông nói, một học trò chỉ có thể thành công khi ông hài lòng với kỹ năng và hiểu biết của người đó. Ông truyền cho học trò những phương pháp đánh giá, ước định của ông, và chúng cũng độc đáo như những tác phẩm của ông vậy. Ông không bao giờ thổi phồng tầm quan trọng của những bức tranh hay sự nổi tiếng, mà ông luôn nhấn mạnh đến cách xử sự, thái độ với cuộc sống của học trò.
Trong một số lượng lớn học trò, Rajeev là một người có tài nhất, chăm chỉ, sáng tạo, nên anh ta tiếp thu nhanh hơn nhiều so với các bạn đồng môn. Ông Ranga rất hài lòng về Rajeev.
Một ngày kia, sau bao nhiêu cố gắng, Rajeev được ông Ranga gọi đến và bảo:
- Ta rất tự hào về những tiến bộ mà con đã đạt được. Bây giờ là thời điểm con làm bài thi cuối cùng trước khi ta công nhận con thực sự là một họa sĩ tài năng. Ta muốn con vẽ một bức tranh mà ai cũng phải thấy đẹp, phải khen ngợi.
Rajeev làm việc ngày đêm, trong rất nhiều ngày và đem đến trình thầy Ranga một bức tranh tuyệt diệu. Thầy Ranga xem qua rồi bảo:
- Con hãy đem bức tranh này ra đặt ở quảng trường chính, để tất cả mọi người có thể chiêm ngưỡng. Hãy viết bên dưới bức tranh là tác giả sẽ rất biết ơn nếu bất kỳ ai có thể chỉ ra bất kỳ sơ suất nào trên bức tranh và đánh một dấu X vào chỗ lỗi đó.
Rajeev làm theo lời thầy: đặt bức tranh ở quảng trường lớn với một thông điệp đề nghị mọi người chỉ ra những sơ suất.
Sau hai ngày, Ranga đề nghị Rajeev lấy bức tranh về. Rajeev rất thất vọng khi bức tranh của mình đầy dấu X. Nhưng Ranga tỏ ra bình tĩnh và khuyên Rajeev đừng thất vọng, cố gắng lần nữa. Rajeev vẽ một kiệt tác khác, nhưng thầy Ranga bảo phải thay đổi thông điệp dưới bức tranh. Thầy Ranga nói phải để màu vẽ và bút ngay cạnh bức tranh ở quảng trường và đề nghị mọi người tìm những chỗ sai trong bức tranh và sửa chúng lại bằng những dụng cụ để vẽ ấy.
Hai ngày sau, khi lấy tranh về, Rajeev rất vui mừng khi thấy bức tranh không bị sửa gì hết và tự tin đem đến chỗ Ranga. Ranga nói:
- Con đã thành công vào ngày hôm nay. Bởi vì nếu chỉ thành thạo về mỹ thuật thôi thì chưa đủ, mà con còn phải biết rằng con người bao giờ cũng đánh giá bừa bãi ngay khi có cơ hội đầu tiên, cho dù họ chẳng biết gì về điều đó cả. Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng. Con người thích đánh giá người khác mà không nghĩ đến trách nhiệm hay nghiêm túc gì cả.
Mọi người đánh những dấu X lên bức tranh đầu tiên của con vì họ không có trách nhiệm gì mà lại cho đó là việc không cần động não. Nhưng khi con đề nghị họ sửa những sơ suất thì không ai làm nữa, vì họ sợ bộc lộ hiểu biết - những thứ mà họ có thể không có. Nên họ quyết định tránh đi là hơn. Cho nên, những thứ mà con phải vất vả để làm ra được, đừng dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người khác. Hãy tự đánh giá mình. Và tất nhiên, cũng đừng bao giờ đánh giá người khác quá dễ dàng.
Nguồn: macnauhoctro.com

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2011

Tha thứ




Tha thứ

     Lỗi lầm này của ai?
     Đời sống với khuynh hướng hưởng thụ đã khiến cho ta không có nhiều cơ hội đề nuôi dưỡng và bảo vệ những đức tính quý báu trong tâm hồn, thậm chí ta còn liều lĩnh chấp nhận hư hao những hạt giống tốt đẹp ấy để đổi lấy những thỏa mãn quyền lợi tiện nghi. Khi đời sống tinh thần trở nên yếu kém thì chắc chắn ta sẽ gây ra ít nhiều những vụng về trong cách hành xử với những người chung quanh, hay lỡ chân trượt vào cạm bẫy.
     Lúc đầu ta hay có thói quen đổ thừa cho hoàn cảnh, trách đời trách người, nhưng khi tâm tư lắng đọng ta mới thấy rõ chính nhận thức sai lầm và nội lực yếu đuối của ta mới là nguyên nhân gốc rễ gây ra tất cả những vụng về, lầm lỡ đó.
     Vừa mặc cảm ăn năn, vừa hốt hoảng lo sợ, tâm tư vốn sa sút giờ lại càng sa sút hơn. Nếu không có cánh tay hết lòng nâng đỡ của người thương yêu đưa tới, mà còn phải chịu thêm áp lực của những người chưa hiểu chưa cảm thông, thì có thể ta sẽ lún sâu thêm vào vũng lầy lầm lỗi hay sẽ chọn tới giải pháp tồi tệ nhất để mọng tìm một lối thoát thân. 
     Tôi được nghe kể về một em sinh viên vì không được thỏa mãn điểm thi, cho rằng các thầy cô đã cố tình chèn ép mình, nên đã cầm dao chém rất hung bạo vào Ban Giám hiệu nhà trường. Sự cố đáng tiếc này đã gây xáo trộn rất lớn trong dư luận, thầy cô và bạn bè đã hoàn toàn thất vọng nên gần như tẩy chay em, gia đình đã trách giận và không muốn nhìn mặt em, những người chung quanh đã không tiếc lời cay đắng buộc tội và háo hức muốn trừng phạt em với một bản án tù xứng đáng. Kết quả là vài tưần sau đó em đã lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng và trở thành bệnh nhân tâm thần cho đến nay.
     Đúng là em đã mắc phạm sai lầm, lỗi của em có thể bị xem nặng hơn vì em đã từng là người của công chúng, được mệnh danh là học sinh gương mẫu cấp thành phố, đại diện thế hệ trẻ năng động và sáng tạo qua cuộc thi tài năng. 
     Nhưng nếu nhìn cho thấu suốt ta sẽ thấy hành động sai lầm của em hôm nay không chỉ của riêng bản thân em thôi, nó còn liên hệ sâu xa đến nhiều đối tượng đã và đang ảnh hưởng đến đời sống của em. Ta không thể nào nói em là một cá thể tồn tại biệt lập, không có liên can gì tới ta. Không đâu, tất cả chúng ta đều có một phần trách nhiệm trong đó, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. 
     Nếu gia đình chăm sóc đời sống tinh thần của em kỹ lưỡng hơn, bạn bè và môi trường chung quanh tiết chế được những năng lượng tiêu cực hơn, tôn giáo kịp thời đem tới cho em những phép thực tập có khả năng chế ngự những cảm xúc trong lòng hơn, học đường trao truyền cho em đầy đủ vốn liếng đạo đức và có tình thầy trò hơn, an ninh xã hội quản lý chặt chẽ hơn các nguồn phim ảnh hay trò chơi điện tử có tính chất bạo động, kinh tế phát triển cân đối hơn để con người bớt bận rộn, có nhiều cơ hội tìm hiểu và thương nhau nhiều hơn… thì chắc là em sẽ không dễ lạc vào nẻo đường tăm tối như vậy.
     Ta nỡ đổ hết trách nhiệm này lên vai em thì làm sao em gánh nổi. Em sẽ gục ngã và mất hết tương lai, và ta cũng sẽ mất dần những người em tiếp nối ta đi về tương lai. Những người em đó là tương lai của chúng ta. Em đã mắc phạm sai lầm và em cần được cứu giúp, đó là con đường thoát cho em và cho cả nhân loại. Ta đừng để sự giận hờn và thất vọng quá mức khiến ta trở thành kẻ thờ ơ vô trách nhiệm, để rồi ngoảnh mặt quay đi hay thẳng tay trừng trị hết những người em nhất thời non dại.
      Xin cho một con đường
      Ta cũng đừng cho mình cái quyền lên án buộc tội kẻ khác. Nếu chúng ta vẫn còn có những vụng về, mắc phải những lầm lỡ, dù người đời chưa hay biết hoặc chưa phanh phui, thì chúng ta không thể nào tự cho mình là trong sạch mà tùy tiện dán nhãn hiệu xấu xa lên đầu kẻ vừa phạm lỗi. Hãy cho người kia một cơ hội để chuyển hóa, vì như vậy cũng chính là ta đã tự cho mình một con đường thoát trong tương lai.
      Vậy nên tha thứ là chất liệu quan trọng của bản chất thương yêu. Khi thiết lập bất cứ một liên hệ tình cảm nào nếu ta ngây ngô nghĩ rằng người kia chắc chưa từng lầm lỗi hay sẽ không bao giờ gây ra lầm lỗi thì ta sẽ khổ và sẽ làm người thương của ta khổ. Đời sống còn chìm trong vô minh thì không thể tránh khỏi hành vi không tự chủ. Vấn đề là ta có khả năng chấp nhận và tha thứ rồi tìm cách giúp họ vượt thoát tình trạng hay không, chứ không phải mong muốn người kia toàn hảo thì ta mới có thể yêu thương. 
     Tất nhiên là tùy vào mức độ phạm sai lầm của người kia mà ta nên thể hiện cách tha thứ nào hiệu quả nhất, tại vì điều đó cũng có tính chất quyết định cho sự chuyển hóa hay sự khinh lờn của đối phương. Cho dù cách thức nào đi chăng nữa, thậm chí cả sự lựa chọn không tha thứ ngay thì ta cũng đừng quên tự hỏi mình một câu hỏi quan trọng: Ta làm như vậy là vì người kia hay vì chính ta? Coi chừng ta đang bị thúc đẩy bởi sự tự ái hay tổn thương của bản ngã ích kỷ mà cứ ngỡ là vì người kia.
     Nếu thật sự vì tương lai của người kia thì ta phải đủ sáng suốt và can đảm để thu gọn cảm xúc buồn giận trách móc của mình, tìm cách ứng xử với người kia như thế nào để họ sớm hồi phục. Chỉ cần kiểm tra lại tâm ý, lời nói và hành động của mình có xuất phát từ tình thương hay không, là ta đủ yên tâm để làm quyết định.
     Cho dù người kia có đứng ra bày tỏ sự ăn năn hối cải một cách thành khẩn hay không thì ta cũng nên nhớ rằng đó chỉ là hình thức để ta thấy rõ thái độ muốn sửa chữa những sai lầm, và cũng có thể xem đó là một biên bản ngầm ký kết cho sự hơp tác giúp đỡ nhau. Ta đừng để kẹt vào những hình thức hay ở đó mà không thấy được trái tim của người kia. Ta đã từng chứng kiến có rất nhiều người sẵn sàng buông xuôi tất cả nếu kẻ phạm lỗi chịu quỳ xuống cầu khẩn thiết tha, nhưng họ lại sẵn sàng đóng chặt trái tử khi người kia không biết đem sự hối cải trong tâm ra trình diễn cho đẹp lòng họ . 
     Thử một lần trượng phu
      Một giai thoại kể rằng, chú tiểu nọ có tật xấu hay ăn cắp vặt và lúc nào cũng cãi chối. Nhiều lần các huynh đệ trình báo cho sư phụ biết, nhưng không thấy sư phụ nói năng gì cả. Một hôm bắt gặp quả tang, các huynh đệ liền áp giải chú tới trước sư phụ và cùng quỳ xuống kiến nghị: “Nếu sư phụ không đuổi sư em này đi thì tất cả chúng con sẽ bỏ đi hết”.
     Nhìn qua một lượt thấy nét mặt người nào cũng rất căng thẳng vì ấm ức, còn riêng sư em thì rơm rớm nước mắt vì lo sợ, vị sư phụ liền ôn tồn nói: “Ta thấy các con đã đủ khôn lớn để chọn lựa việc phải trái nên các con muốn đi đâu thì đi, ta không ngăn cản vì không phải bận tâm nữa. Riêng sư em này còn nhỏ dại quá, chưa biết tội phước là gì nên phải cần ở lại với ta”. 
     Khi ấy chú tiểu bật khóc nức nở và các huynh đệ kia ai nấy cũng đồng cảm kích trước tấm lòng vị tha cao cả của sư phụ. Các huynh đệ đó đã hiểu ra rằng nếu có người phạm lỗi là đón nhận bản án bị đuổi đi ngay lập tức thì chắc chắn trong tương lai sẽ khó có ai được ở lại tu tập bền lâu với sư phụ cả, vì ai mà không có những giây phút lỗi lầm. 
     Về sau, chú tiểu kia trở thành một trong những thiền sư lỗi lạc và danh tiếng nhất thời bấy giờ.
     Sống mà chỉ biết dựa vào những nguyên tắc cứng nhắc thì làm sao điều phục được con người, vì nguyên tắc vốn cố định còn bản tính con người thì muôn hình vạn trạng và hên tục đổi thay. 
     Phải có một nhận thức thấu đáo và nội lực vững vàng thì ta mới làm được cái quyết định sấm sét như vị sư phụ đó. Ông đã không ngại người ngoài hiểu lầm chê trách, cũng không lo sợ các môn đồ bất mãn bỏ đi, ông thà chịu mất lòng người khác chứ không thể làm trái ngược với đạo lý từ bi mà ông đang sống và giảng dạy cho môn đồ. 
     Mà cũng không phải vì đạo lý hay nguyên tắc nữa, đó chính là tình thương vô điều kiện của một người đã vượt thoát ra ngoài sự khống chế và trói buộc của phiền não.
     Ta có làm được như vị sư phụ đó không? Chỉ cần một nhận thức đúng đắn về nguyên nhân sâu xa của kẻ gây ra lầm lỗi, có một trái tim đủ lớn để sẵn sàng chứa đựng thì tha thứ sẽ không còn là sự thực tập khó khăn nữa, vì bản chất của nó vốn tùy thuộc rất ít vào đối tượng. Biết đâu nhờ vào lòng vị tha của ta mà kẻ kia tỉnh ngộ và thay đổi cuộc đời, đó chẳng phải là việc làm cao cả của một bậc trượng phu sao?
      Khó vượt qua chính mình
      Ta có nên đặt cho mình câu hỏi tại sao ta khó có thể tha thứ cho người kia? Ta thường chỉ nghĩ một chiều là do mức vi phạm của họ quá lớn, nhưng tại sao cũng trường hợp như vậy mà có người lại hành xử khác ta?
     Có khi ta chịu nhiều áp lực từ những khó khăn trong cuộc sống, hoặc đang bế tắc khổ đau vì những phiền não trong lòng, nên ta không còn đủ năng lượng để ngồi xuống lắng nghe hay không còn đủ thiện chí để tìm hiểu về lỗi lầm của người kia, nên ta đã có những phán xét rất vội vàng. Trường hợp này do ta sa sút về nội lực. 
     Có khi người kia đã cố gắng hết sức nhưng vì còn thiếu kinh nghiệm và chưa đủ cứng rắn nên để cho điều đáng tiếc phải xảy ra, trong khi đó ta lại tưởng là người kia đã không nhiệt tình: hoặc do họ vụng về nhất thời mà buông ra những hành vi thất lễ, nhưng ta lại cho rằng người kia đang rất khinh thường và có ý muốn loại trừ ta. Trường hợp này ta bị vướng vào trí tưởng tượng sai lầm. 
     Có khi người kia vì u mê dại dột hay vì yếu đuối nên không thoát khỏi vũng lầy đam mê, để cho lỗi lầm cứ lặp lại nhiều lần như một điệp khúc; hoặc ta chưa bao giờ chứng kiến một người có thể gây ra lầm lỗi tày trời như vậy; hoặc ta chưa có thói quen tha thứ cho kẻ có quá nhiều ân tình với ta mà lại đang tâm phản bội. Trường hợp này khả năng chứa đựng trái tim của ta còn khá nhỏ, chưa có cơ hội mở rộng ra.
     Có khi người kia vi phạm những lỗi lầm không đáng kể, nhưng vì tính ta vốn quá chỉn chu, đòi hỏi hoàn hảo, nên lúc nào cũng canh chừng lỗi lầm người khác để kết tội; hoặc do ta không hề quan tâm đến hoàn cảnh hay trình độ nhận thức của người khác, chỉ biết nhồi sọ và áp đặt theo cách thức cứng nhắc của riêng mình. Trường hơp này ta bị kẹt vào sự cố chấp và định kiến, đó là một loại bản năng tự vệ rất cổ hủ. 
     Có khi sự cố xảy ra ta liền bực tức và vội vàng tuyên bố đoạn tuyệt, sau khi điềm tỉnh nghĩ lại thấy mình cũng hơi quá đáng, nhưng kẻ phạm lỗi kia phải biểu lộ sự thành khẩn ăn năn thì ta mới chịu bỏ qua. Lỡ như người kia thiếu ý tứ hoặc cứng đầu thì lỗi lầm ấy sẽ biến thành bản án treo không rõ ngày kết thúc. Trường hợp này ta là kẻ yếu đuối, hành xử theo cảm tính. 
     Có khi người kia phạm những điều với ta là rất quan trọng, hay có ảnh hưởng đến danh tiếng và uy tín của ta; hoặc ta đã muốn tha thứ rồi nhưng lại sợ người khác cười chê ta thiếu kỷ cương nề nếp hay dung túng cho kẻ làm điều xấu; hoặc ta e ngại nếu tha thứ quá dễ dàng thì người kia sẽ ỷ lại, chẳng coi ta ra gì. Trường hợp này ta kẹt vào danh dự, thực chất cũng là một loại nghiện cảm xúc, một loại tôn thờ chủ nghĩa cá nhân kín đáo. 
     Tất cả những trường hợp không thể tha thứ vừa nêu đều có chung một nguyên do chính là sự vướng kẹt vào bản ngã. Vì quá nâng niu bản ngã, nên ta chỉ nghĩ đến những điều có thể đem lại lợi ích thiết thực cho chính ta thôi. Đó chính là căn bệnh vị kỷ truyền kiếp, hành tung của nó hết sức tinh vi và phức tạp, nếu thiếu quan sát tinh tế thì ta rất dễ bị nó đánh lừa là ta đang vì kẻ khác.
     Càng vị kỷ thì càng không thể vị tha. Trong khi tình thương phải bắt nguồn từ trái tim biết buông bỏ bớt những cái riêng mình để chia sẻ đến tha nhân, vì tha nhân cũng chính là một phần đời sống của ta. Không có tha nhân thì không có tình thương, ta làm sao sống khi đời sống không có tình thương?
     Thà ta cứ tha lầm thì mức độ hối tiếc sẽ thấp hơn nhiều so với chấp lỡ. Bởi khi nhận ra chính thái độ cố chấp của ta ngày ấy đã đẩy người kia rớt xuống vực thẳm khổ đau thì ta sẽ gánh chịu mặc cảm ăn năn suốt đời. Còn khi phát hiện ra quyết định tha thứ của ta đã không mang lại hiệu quả thì ta vẫn còn nhiều cơ hội để cứu được, vì trái tim ta đang trong chiều hướng nở ra và mạnh mẽ chứ không phải co rút lại. 
     Điều đáng sợ nhất là trong quá trình thương yêu, ta đã để cho trái tim mình trở nên bé nhỏ và không còn là vật rung cảm linh thiêng nữa.
     Này bạn! Tôi không có ý khuyên bạn hãy trở thành bậc Thánh để sẵn sàng tha thứ hết mọi lầm lỡ của con người, những nếu trái tim bạn còn sức chứa đựng thì đừng suy tính gì nữa, hãy tha thứ cho nhau đi. Tha thứ luôn là linh dược mầu nhiệm có thể trị liệu mọi nỗi khổ niềm đau cho người được tha thứ và cho cả người tha thứ.
“Nắm muối không hề mặn
Với lượng cả dòng sông
Lỗi lầm kia bé nhỏ
Với cõi lòng mênh mông.”
 Nghệ thuật sống Viết bởi Minh Niệm   


Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011

Sống hạnh phúc!

 

 

Sống hạnh phúc!


Người ta bảo ở bên Palestine có hai biển hồ.
- Biển hồ thứ nhất gọi là biển Chết. Ðúng như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này. Cá không thể sống nổi với nước trong hồ và khi con người uống phải thứ nước trong hồ này thì cũng bị bệnh cho nên không ai muốn sống gần đó cả.
- Biển hồ thứ hai tên là Galilee. Ðây là biển hồ thu hút nhiều khách du lịch nhất. Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống được mà cá cũng sống được. Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở gần nơi này và vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nước của hồ này.
Thế nhưng điều kỳ lạ là cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào biển Chết thì nó đón nhận và giữ lại riêng cho mình mà không chia sẻ cho nên nước trong biển hồ Chết dơ bẩn và trở nên mặn chát. Biển hồ Galilee cũng đón nhận nguồn nước từ sông Jordan nhưng chảy tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong biển hồ này luôn trong sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muôn thú và con người.
Qua câu chuyện của hai biển hồ nói trên, người ta nhận ra được một định lý trong cuộc sống mà hầu như ai cũng đồng ý, đó là:
- Một ánh lửa được chia sẻ sẽ là một ánh lửa lan tỏa.
- Ðôi môi có hé mở nụ cười thì mới nhận được nụ cười đáp lại.
- Bàn tay có mở rộng trao gởi và ban phát thì tâm hồn mới tràn ngập vui sướng được.
Thật bất hạnh cho một người nào đó cả cuộc đời chỉ biết giữ mọi thứ riêng cho mình, sống ích kỷ và không có tâm hồn vị tha. “Sự sống” trong họ rồi cũng sẽ chết dần, chết mòn như nước trong biển hồ Chết mà thôi.

Những điều nên tránh

1. Ðừng quên hy vọng vì sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại, ngay cả khi bạn bị bỏ rơi hay đau khổ.
2. Ðừng đánh mất niềm tin vào chính mình. Chỉ cần tin là mình có thể làm được thì bạn lại càng có lý do để cố gắng thực hiện thành công điều đó.
3. Ðừng lấy của cải vật chất để đo lường thành công hay thất bại. Chính tâm hồn của mỗi con người mới xác định được mức độ “giàu có” trong cuộc sống của mình.
4. Ðừng để những khó khăn đánh gục bạn, hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua được.
5. Ðừng do dự khi đón nhận sự giúp đỡ, tất cả chúng ta đều cần được giúp đỡ, ở vào bất kỳ một khoảng thời gian nào đó trong cuộc đời.
6. Ðừng chạy trốn mà hãy tìm đến tình yêu vì đó là niềm hạnh phúc nhất của bạn.
7. Ðừng chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.
8. Ðừng bao giờ cho là bạn đã thất bại khi những kế hoạch và giấc mơ của bạn sụp đổ, vì cho dù trải qua kinh nghiệm về thất bại nhưng đây chính là dịp học hỏi kinh nghiệm để tiến bộ hơn lần sau.
9. Ðừng quên mỉm cười trong cuộc sống. Nụ cười của bạn mang lại hạnh phúc cho người xung quanh và do đó cũng mang lại hạnh phúc cho chính bạn.
10. Ðừng quên tìm cho mình một người bạn thật sự, bởi vì tình bạn chính là điều rất cần thiết trong suốt cuộc đời.
Cuối cùng, xin đừng quên ơn những người đã cho bạn cuộc sống hôm nay với tất cả những gì bạn cần đến hay có được, bởi vì con cháu đời sau của bạn sẽ xem bạn như tấm gương của chúng để noi theo khi biết nhớ ơn tiền nhân.
Nguồn: nghethuatsong.net